20:04 ICT Thứ tư, 20/09/2017 CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC | CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC CÁC TỔ | DANH SÁCH KHỐI 9 | DANH SÁCH KHỐI 8 | DANH SÁCH KHỐI 7 | DANH SÁCH KHỐI 6 | KẾ HOẠCH TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO | KHDH TỔ VĂN | KHDH TỔ SINH HÓA THỂ | KHDH tổ toán | 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

LIÊN KẾT WEBSITE

VIDEO

Loading the player...

Trang nhất » Tin Tức » Dạy và Học » Sáng kiến - Kinh nghiệm

Giải pháp nâng cao chất lượng dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9

Chủ nhật - 01/02/2015 19:32
Giải pháp nâng cao chất lượng dạy  bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9

Giải pháp nâng cao chất lượng dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9

PHẦN MỞ ĐẦU
I.                 Đặt vấn đề:
1.                   Cơ sở lý luận:
           “Văn học là nhân học”. Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và sự phát triển tư duy của con người
      Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Đây là môn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người. Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Mặt khác nó cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rất nhiều các môn học khác trong các nhà trường phổ thông. Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống. Nhưng một thực tế cho thấy môn ngữ văn không mấy hứng thú với HS, HS còn học đối phó nên chất lượng môn NV còn thấp. Các em chỉ quan tâm học Ngoại ngữ, Tin học và các môn khoa học tự nhiên. Thế kỉ XXI đã và sẽ chứng kiến tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ. Do đó, không quá khó hiểu khi giới trẻ hiện nay có xu hướng tìm đến Ngoại ngữ, Tin học và các môn khoa học tự nhiên như là một sự bảo đảm cho tương lai. Nhưng thật sai lầm khi học sinh loại bỏ môn Văn ra khỏi hành trang tri thức khi bước vào đời. Từ đó đặt ra nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn là phải làm cho học sinh hiểu được cái hay cái đẹp cuả văn học, kích thích sự hứng thú học tập học văn cho học sinh. Một giờ dạy văn là phải tạo ra được những rung động thẩm mỹ, sâu sắc khiến người ta say mê. Song nhiệm vụ không kém phần quan trọng của giáo viên dạy văn ở trường THCS là rèn luyện kỹ năng văn học cho học sinh. Thực ra không phải từ khi đến trường các em mới có cảm xúc thẩm mỹ, mới có năng lực cảm thụ cái đẹp. Ngay từ thưở còn nằm trong nôi qua lời ru của bà, của mẹ, lớn lên nghe hát, nghe ngâm thơ ... Qua các nghệ thuật ấy các em đã tiếp xúc với văn chương. Vì thế đến trường thông qua học tác phẩm văn chương những cảm xúc thẩm mỹ của các em phải được uốn nắn, sửa chữa và bồi dưỡng, nâng lên thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ đúng đắn. Điều đó muốn khẳng định rằng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 nói riêng và Ngữ Văn THCS nói chung không những là việc làm đúng đắn mà còn là công việc có tầm quan trọng trong nhà trường phổ thông. Nó góp phần phát hiện bồi dưỡng để tiến tới đào tạo một phẩm chất, một lực lượng lao động đặc biệt của xã hội, lao động sáng tạo nghệ thuật. Nó kích thích cổ vũ mạnh mẽ ý thức tự giác, lòng say mê và ý chí vươn lên trong học tập, tu dưỡng của học sinh nói chung. Nó còn là một việc làm thiết thực góp phần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên.
       Vậy làm thế nào để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn 9 đạt được kết quả cao? Đây là một câu hỏi đặt ra cho mỗi một đồng chí giáo viên dạy văn lớp 9 ở trường THCS. Thực tế cho thấy, những đồng chí giáo viên được phân công phụ trách bồi dưỡng học sinh giỏi thực sự hết sức lo lắng, trăn trở bởi họ đã bỏ ra nhiều công sức, lăn lộn với học sinh mà hiệu quả chưa cao, chất lượng đội tuyển vẫn thấp. Là một giáo viên đã nhiều năm tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tôi đã nắm bắt được tình hình này, tôi nhận thấy cần quan tâm tới công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu, để đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9
2. Cơ sở thực tiễn:
Năm học 2013 - 2014 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng GD. Đặc biệt chất lượng môn Ngữ Văn được sự quan tâm nhiều nhất ở các Phòng GD- ĐT và ở các trường THCS. Là mối quan tâm, lo lắng của các bậc phụ huynh, các đồng chí giáo viên và các cấp, các ngành. Mặc dù được xem là môn dạy người, học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức bằng trí tuệ mà còn bằng cả tâm hồn. Với vị trí, chức năng đặc biệt quan trọng như vậy nhưng thực tế lại cho thấy một bộ phận không nhỏ học sinh không thích học Ngữ văn và yếu kém về năng lực cảm thụ văn chương không chỉ gây bi quan đối với dư luận xã hội mà còn tác động tiêu cực đến người dạy. Nhiều thầy cô giáo dạy văn đã xuất hiện tâm lí chán nản, buông xuôi, không có động lực để trau dồi chuyên môn, tạo sức ỳ lớn trong tư duy đổi mới, cải tiến phương pháp giảng dạy
Nằm trong cái chung đó, trong những năm qua Phòng GD- ĐT đang còn rất băn khoăn với chất lượng môn NV nói chung và chất lượng HSG môn Ngữ Văn nói riêng. Riêng trường chúng tôi trong những năm qua chất lượng các đội tuyển môn NV ngày càng được khẳng định. Cụ thể: Năm học 2012- 2013, bản thân tôi tham gia bồi dưỡng 2 đội tuyển HSG môn Ngữ Văn 6 và HSG môn Ngữ Văn 8, đạt kết quả: Đội Văn 8 xếp thứ 4 toàn Huyện và đội Văn 6 xếp thứ 5 toàn Huyện. Năm 2013- 2014, tôi tham gia bồi dưỡng Môn Ngữ Văn 9, đạt kết quả: 5/5 em được công nhận HSG Huyện, trong đó 1em giải nhất, 1em giải ba, 3 em giải KK được xếp thứ 4 toàn Huyện. Mặc dù kết quả đó chưa thật sự mỹ mãn, tuy nhiên với một trường nông thôn, có em nào khá thì đi học ở trường chất lượng cao, trường chúng tôi chủ yếu là HS có học lực trung bình, trung bình khá rất ít. Vì vậy có được thành tích đó chính là cả một quá trình tìm tòi, trăn trở để tìm ra một hướng dạy thích hợp, tạo được hứng thú cho HS, giúp HS độc lập sáng tạo trong các giờ học và cũng là một thành công bước đầu của tôi trong việc áp dụng những phương pháp, biện pháp, hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi. Nên tôi mạnh dạn đưa một vài giải pháp nâng cao chất lượng HSG Môn Ngữ Văn 9, để anh chị em đồng nghiệp tham khảo, hi vọng rằng những kinh nghiệm nhỏ này phần nào giúp anh chị em đồng nghiệp tháo gỡ những vướng mắc về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn 9 ở trường THCS.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích:
Khi đặt ra vấn đề : Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9? tôi muốn được chia sẽ, trao đổi bàn luận những kinh nghiệm về việc nâng cao chất lượng dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9, để tìm ra biện pháp thiết thực, khả thi nhất, giải quyết triệt để những vấn đề còn tồn tại trong việc giảng dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9 và mục đích cuối cùng của người viết đề tài này là mỗi một đồng chí trực tiếp giảng dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9 phải đưa hết khả năng của mình để góp phần nâng cao chất lượng đội tuyển HSG môn Ngữ Văn THCS.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu thực tế giảng dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9, tìm ra những tồn tại yếu kém và đưa ra những giải pháp khắc phục để đúc rút kinh nghiệm, làm bài học và một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9 ở các nhà trường THCS.
               Đề tài này có ba nhiệm vụ sau :
               Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu ý nghĩa, tầm quan trọng và những nguyên tắc của việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
               Nhiệm vụ 2: Tình hình bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THCS.
               Nhiệm vụ 3: Một số biện pháp và hình thức tổ chức.
4. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu việc dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9 của GV và HS. Với đề tài này, tôi không có tham vọng đưa ra được hết các giải pháp nâng cao chất lượng dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9 nhưng qua thực tế giảng dạy nhiều năm lớp 9 và phụ trách đội tuyển HSG tôi mạnh dạn đưa ra những giải pháp dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 9 mà tôi đã vận dụng trong quá trình giảng dạy và thực sự có hiệu quả, được chứng minh bằng kết HSG trong 2 năm vừa qua. Để đồng nghiệp trao đổi, bàn bạc, rút kinh nghiệm và vận dụng có hiệu quả các giải pháp này.
5. Phạm vi nghiên cứu:
          Bồi dưỡng học sinh giỏi là một việc làm cần thiết đối với tất cả các khối lớp trong nhà trường THCS, ở đây tôi chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp. Đó là bàn về một số biện pháp, hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi, cụ thể là bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn khối 9 ở trường THCS.
               -     Đối tượng: không phải là học sinh lớp chuyên, trường chuyên mà là học sinh ở các trường đại trà.
-         Thời gian bồi dưỡng:  20->25 buổi
-         Chương trình nghiên cứu: Giai đoạn 1: hết chương trình tuần 8 (Phòng GD tổ chức thi HSG vào khoảng cuối tháng 10)
  6. Phương pháp nghiên cứu :
        Phương pháp chủ yếu khảo sát, nắm bắt tình hình thực tiễn và đúc rút kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy hàng năm để tìm ra giải pháp chung.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:  THỰC TRẠNG VIỆC DẠY BỒI DƯỠNG HSG MÔN NGỮ  LỚP 9 Ở CÁC TRƯỜNG THCS
1.1.           Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn
Bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục đào tạo. Trong những năm qua, phòng GD- ĐT đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác bồi dưỡng HSG, góp phần vào việc đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho huyện nhà, cho tỉnh.
          Bồi dưỡng HSG là một hoạt động dạy học mang tính đặc thù cao: Người học là học sinh giỏi, có năng khiếu theo môn học; người dạy là những giáo viên có trình độ tay nghề cao, giàu kinh nghiệm dạy học.
        Chương trình bồi dưỡng được nâng cao so với chương trình giáo dục chính khóa của Bộ GDĐT; Thời gian và phương pháp bồi dưỡng được các trường vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể …Có thể nói đây là hoạt động dạy học ở trình độ cao, đòi hỏi người dạy và người học phải có năng lực và tố chất cần thiết; đòi hỏi các cấp quản lí giáo dục phải có kế hoạch chỉ đạo và xây dựng giải pháp phù hợp với đặc thù của công tác bồi dưỡng HSG
1.2. Những khó khăn của việc dạy bồi dưỡng môn Ngữ Văn lớp 9 hiên nay
Việc bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm phát hiện tài năng, nâng cao năng lực cảm thụ văn chương cho học sinh. Vì vậy đây là công việc diễn ra thường xuyên hàng năm, là một công tác trọng tâm ở các nhà trường. Hàng năm, sở giáo dục đào tạo Hà Tĩnh và các phòng GD- ĐT vẫn tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi đối với mỗi khối cấp học. Cấp tiểu học thi chọn học sinh giỏi Tỉnh lớp 5, cấp PTTH thi chọn học sinh giỏi  Tỉnh lớp 12, còn đối với cấp THCS thi chọn học sinh giỏi Tỉnh khối 9. Song một khó khăn lớn đối với các nhà trường là tất cả những học sinh có khá đều thích thi môn tự nhiên số còn lại phần nhiều là học sinh trung bình khá.Vì vậy việc chọn học sinh có khá để bồi dưỡng rất khó, số lượng học sinh thì ít mà các môn thi lại nhiều. Mặt khác, do nhận thức của một số phụ huynh lại không muốn cho con em mình tham gia đội tuyển văn cho nên thường thì những học sinh có năng khiếu cả về tự nhiên và xã hội thì các em lại không yêu thích và ham mê học văn. Và ngược lại, lại có những học sinh rất thích học văn nhưng lại không có năng khiếu gì về văn chương. Điều này có ảnh hưởng không ít đến chất lượng của đội tuyển văn.
       Một khó khăn nữa của giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi đó là vấn đề tài liệu, nhất là phương pháp, hình thức bồi dưỡng. Kinh nhiệm thì chưa có là bao mà những bài viết, những chuyên đề về vấn đề này còn qúa ít. Chính từ những lý do này mà các giáo viên rất lo lắng khi được phân công bồi dưỡng, đặc biệt có những đồng chí tìm lý do này, lý do khác để từ chối bồi dưỡng đội tuyển. Đây là một tình hình thực thế mà tôi nắm bắt được thông qua trao đổi, gặp gỡ trực tiếp với một số giáo viên bồi dưỡng đội tuyển ở các trường THCS. Thực tế trên đã giúp tôi nhận thức sâu sắc hơn về công tác này.
1.3.         Những yêu cầu thiết yếu của giáo viên phụ trách đội tuyển Ngữ Văn lớp 9 hiên nay
- Muốn có HSG phải có Thầy giỏi vì thế người thầy phải luôn luôn có ý thức  tự rèn luyện, tích lũy tri thức và kinh nghiệm, trau dồi chuyên môn, luôn xứng đáng là “người dẫn đường tin cậy” cho học sinh noi theo. Phải thường xuyên tìm tòi các tư liệu, có kiến thức nâng cao trên các phương tiện, đặc biệt là trên mạng internet. Lựa chọn trang Web nào hữu ích nhất, tiện dụng nhất, tác giả nào hay có các chuyên đề hay,  khả quan nhất để sưu tầm tài liệu…
- Giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy, theo kinh nghiệm của bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu. Cái có được lớn nhất mà bản thân chúng tôi nhận thấy đó là tinh thần trách nhiệm, là sự nhiệt tình của các thầy cô giáo trong suốt quá trình ôn tập. Thiết nghĩ, chúng ta cần coi bồi dưỡng đội HSG  mỗi môn là nhiệm vụ chung của tổ (nhóm) chuyên môn.
- Các thầy cô giáo giỏi, có kinh nghiệm cần xây dựng chương trình, nội dung, hệ thống luyện tập cụ thể đầy đủ chi tiết, đúc kết kinh nghiệm thành tài liệu chung quý giá của nhà trường qua các thế hệ, truyền đạt lại cho các lực lượng trẻ. Các thầy cô giáo trẻ cần tích cực chủ động nghiên cứu, tìm tòi, khám phá, tận dụng công nghệ thông tin để tích luỹ kiến thức nâng cao trình độ. Lấy nỗ lực của bản thân là chính, coi việc học hỏi vốn kiến thức, kinh nghiệm  của các thế hệ đi trước là quan trọng trong việc định hướng tìm tòi, xác định trọng tâm kiến thức, kỹ năng, phương pháp để đạt được hiệu quả cao trong thời gian ngắn nhất.
- Cần lựa chọn những em học sinh có năng khiếu, tư chất, trí tuệ, lòng đam mê vào đội tuyển, làm nguồn cho năm học kế tiếp. Đây là một nhiệm vụ khá quan trọng bởi có thầy giỏi mà không có trò giỏi thì khó thành công. Người thầy không chỉ biết dạy mà còn phải biết phát hiện ra những học sinh có năng lực bộ môn thực sự để đưa vào đội tuyển. Đối với trường chúng tôi, số lượng học sinh giỏi không nhiều, vì thế chúng tôi đã phải có sự phân loại và chọn lọc kỹ càng. Việc phát hiện và chọn HSG được dựa trên các cơ sở sau: căn cứ vào các thành tích đã đạt ở các năm học trước, căn cứ vào đề nghị của giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp, căn cứ vào kết quả kỳ thi HSG trong toàn trường (được tổ chức đúng quy định và nghiêm túc) và một khi được chọn, học sinh sẽ được bồi dưỡng liên tục. Qua các đợt kiểm tra sàng lọc, giáo viên có thể bổ sung một số học sinh mới thay cho học sinh không đạt yêu cầu trong quá trình bồi dưỡng.
Song có lẽ cái khó nhất đối với người thầy là làm thế nào để học sinh thật sự say mê với môn học? Nếu các em chỉ có tố chất là chưa đủ bởi thiếu sự say mê các em sẽ không thành công được. Là những giáo viên trực tiếp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn, chúng tôi vẫn thường hướng cho các em nhận thấy văn chương dẫn các em vào một thế giới mà sự cho đi không đòi hỏi sự đáp lại. Văn chương chân chính dù ở thời đại nào cũng đề cao tình yêu thương, lòng nhân ái, sự công bằng. Học văn, các em sẽ nhận thấy thế giới này sẽ đẹp hơn nhiều từ những điều giản dị: như nụ cười của mẹ hay niềm vui của cha. Với văn học, các  em chỉ cần ngồi một mình trong phòng mà có thể đi khắp thế gian, quay về quá khứ, đến tương lai, trên trời hay xuống biển, bước vào thế giới cổ tích... Bởi vì "sách mở ra trước mắt ta những chân trời mới", hay như một nhà tỉ phú từmg nói "Nếu không thể tặng cho con  một tấm vé máy bay thì hãy tặng cho con một cuốn sách”.
      - Bước tiếp theo, sau khi lựa chọn được học sinh, lập đội tuyển chúng tôi lập kế hoạch một cách cụ thể tránh tình trạng thích đâu dạy đó. Dạy theo chuyên đề là biện pháp mà chúng tôi thấy đó là hữu hiệu nhất. Cụ thể trong chương trình bồi dưỡng học sinh môn Ngữ văn 9 chúng tôi đã chia thành các chuyên đề cụ thể
      - Trong các chuyên đề giáo viên phải lựa chọn được nội dung bồi dưỡng vừa nhắc lại kiến thức cơ bản vừa có kiến thức nâng cao, mở rộng; dành nhiều thời gian cho học sinh luyện các dạng  đề học sinh  giỏi trên cơ sở xác định được vấn đề cần nghị luận, lập dàn ý, xác định các đơn vị kiến thức lí luận cần thiết trong bài viết để từ đó giúp học sinh nhận dạng đề, xác định các ý cơ bản cho một đề bài…
      - Sau khi thống nhất nội dung bồi dưỡng chúng tôi phân công giáo viên giảng dạy theo các chuyên đề, theo sở trường nhằm phát huy năng lực, sở trường của giáo viên trong tổ chuyên môn.
      - Một điều nữa chúng tôi muốn nói đó là người giáo viên phải có sự đam mê thực sự với môn học và công tác bồi dưỡng HSG. Sự đam mê đến cuồng tín mới có thể thành công được. Nếu chúng ta chỉ nghĩ dạy học sinh giỏi được bao nhiêu tiền/tiết, số tiền đó sẽ mua được thứ gì cho mình và gia đình thì sẽ không bao giờ đạt được đích cao nhất của sự vinh danh cho cả thầy và trò.
 
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY BỒI DƯỠNG HSG MÔN NGỮ VĂN 9
Chất lượng giảng dạy và hiệu quả  công tác bồi dưỡng HSG môn Ngữ văn lớp 9 do nhiều yếu tố quyết định, chi phối: chương trình, phương pháp giảng dạy của thầy, ý thức, thái độ học tập của trò. Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học đóng vai trò then chốt. Có thể khẳng định, đổi mới phương pháp giảng dạy đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay. Cần khôi phục động lực học tập, khơi dậy niếm say mê, tình yêu văn học của học sinh bằng những giờ dạy thực sự hấp dẫn, lôi cuốn. Cần tiến hành thi cử nghiêm túc, đánh giá chính xác, khách quan năng lực học tập thực sự của học sinh đối với môn học này để có những điều chỉnh kịp thời. Với khuôn khổ đề tài này tôi muốn đưa ra một vài giải pháp về phương pháp giảng dạy bồi dưỡng HSG lớp 9 ở giai đoạn 1 (Thời gian từ mồng 6 tháng 9 đến cuối tháng 10, nội dung chương trình nằm ở hết tuần thứ 8) có tính khả thi, trong quá trình giảng dạy và đúc rút kinh nghiệm của bản thân để đồng nghiệp tham khảo và góp ý kiến.
3.1. Giải pháp chung.
3.1.1. Cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy và học.
* Đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo: Nội dung giảng dạy được chia ở 3 mức độ:
a. Dạy chính khoá: Dạy nghiêm túc, đáp ứng được yêu cầu cần đạt trong mỗi tiết dạy, chú trọng dạy tốt các tiết ôn tập, luyện tập, tổng kết (nên dạy máy vì lượng kiến thức nhiều) và tiết trả bài kiểm tra sau mỗi tiết kiểm tra.
b. Dạy thêm (Buổi 2): Dạy trong năm học (25 buổi). Ôn tập lại các kiến thức cơ bản của các văn bản kết hợp với phần tập làm văn và ôn tập kiến thức cơ bản phần Tiếng Việt qua các bài tập cụ thể.
c. Dạy bồi dưỡng: (20 buổi) Chủ yếu đi vào các mảng nội dung, dạng bài rèn luyện kỹ năng làm bài của học sinh thông qua các dạng bài, dạng đề, đặc biệt là các dạng đề kép, đề tổng hợp.
* Đổi mới phương pháp giảng dạy:
Giáo viên phải từng bước chuyển từ phương pháp giảng dạy truyền thụ kiến thức một chiều sang phương pháp dạy học mới, trong đó học sinh dưới sự tổ chức, gợi mở, dẫn dắt của giáo viên tự mình chiếm lĩnh bài văn, tự rút ra những kết luận, những bài học cần thiết cho mình với sự chủ động tối đa. Có như vậy, học sinh mới thấy hứng thú và cảm thấy mình cũng là người “đồng sáng tạo” với tác giả, như quan điểm của mỹ học tiếp nhận.
3.1.2. Cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học. 
Đặc biệt khi day các bài ôn tập, luyện tập, tổng kết để đưa được lượng kiến thức sâu rộng và rèn luyện được kỹ năng thực hành các dạng bài tập cho HS
3.1.3. Để rèn luyện được kỹ năng làm bài cho học sinh GV phải thật sự chú trọng việc chấm, chữa bài cho HS:
Theo tôi đây là khâu cực kỳ quan trọng. Sau mỗi bài làm nếu GV giúp HS nhận ra những lỗi sai về kỹ năng trình bày cũng như kiến thức cơ bản trong từng bài làm thì chắc chắn sẽ khơi gợi được hứng thú cho HS. Qua thực tế giảng dạy bồi dưỡng cho HS lớp 9 nhiều năm tôi thấy, để khơi gợi được hứng thú cho HS tiếp cận môn Ngữ Văn thì GV phải thực sự chú trọng công tác chấm chữa thường xuyên cho HS đặc biệt là chấm chữa các đề bài HSG . Tôi rất tâm đắc với bài báo “Không có cú hích ấy, giờ tôi sẽ ra sao?” của một  cậu học trò lớp 8E (như lớp 10 bây giờ) năm học 1976-1977 của trường cấp 3 Đức Thọ (Hà Tĩnh) bây giờ đã 50 tuổi, là một cán bộ quản lý giáo dục ở Tây Nguyên. Nội dung bài báo ghi lại kỷ niệm thời học trò của người viết về một giờ trả bài tập làm văn của cô Minh. Tác giả bộc lộ “Chính giờ trả bài hôm đó, nhờ có cô mà tôi từ một học sinh chỉ học khá các môn tự nhiên nhưng học kém về môn văn, chán học môn văn đã trở thành một học sinh học khá môn văn và yêu thích môn văn.” Cô Minh đã chữa lỗi dù là nhỏ cho từng HS trong lớp, đồng thời còn có những câu vừa khích lệ, vừa động viên từng em HS. Người viết bài báo lúc đó được cô nhận xét bài làm của mình và được động viên khích lệ nên đã bộc bạch: “Lúc đó, tôi thực sự sung sướng, có pha lẫn chút tự hào. Và từ đó về sau, tôi rất cố gắng học văn và yêu thích môn văn, trở thành học sinh học khá môn văn. Tôi vẫn thường nghĩ lại “cú hích” ấy. Nếu như ngày đó, không có điểm 8 cao nhất lớp ấy, đặc biệt là không có những lời khen ngợi động viên kịp thời của cô thì chắc là tôi vẫn mãi mãi là một học sinh học yếu môn văn. Có thể đối với cô, giờ văn đó là bình thường như mọi giờ văn khác và cô cũng không nhớ. Nhưng đối với tôi đó là một bước ngoặt lớn trong sự tiến bộ về môn văn của mình. Đó vẫn là kỷ niệm không bao giờ quên đối với tôi, đồng hành cùng tôi trên bước đường học hành, công tác. Khi trở thành thầy giáo và bây giờ là cán bộ quản lý giáo dục cấp huyện, tôi vẫn thường lấy đó làm kinh nghiệm sư phạm cho mình trong các giờ lên lớp, đặc biệt là các giờ trả bài kiểm tra. Tôi cũng thường xuyên tâm sự với các bạn đồng nghiệp về bài học ấy”
3.1.4. Đổi mới cách tổ chức và giảng dạy:
- Chọn GV dạy: GV dạy bồi dưỡng lớp 9 phải thật sự nhiệt tình, tâm huyết, phải là GV khá, giỏi, phải thật sự lo lắng đến chất lượng của HS.
- Đội tuyển HSG phải được tuyển chọn bằng phương pháp thi tuyển nghiêm túc, HSG môn Ngữ Văn phải thực sự yêu thích môn Ngữ Văn, phải có kỹ năng làm một bài văn thông thường, phải chăm chỉ, say mê môn văn.
- Thời lượng, số buổi: 20 buổi. Đây là bồi dưỡng ở giai đoạn 1 nên chương trình nằm ở hết tuần 8, tức là cuối tháng 10 hàng năm, là thời gian mà các Phòng GD tổ chức thi chọn HSG Huyện và chọn đội tuyển dự thi cấp tỉnh. Sau khi chọn được đội tuyển thì bước sang bồi dưỡng giai đoạn 2 nhưng với khuôn khổ của đề tài nên tôi chỉ trình bày một số giải pháp bồi dưỡng HSG Ngữ Văn lớp 9 ở giai đoạn 1
3.2. Nội dung, Giải pháp cụ thể khi dạy bồi dưỡng HSG Ngữ Văn lớp 9
3.2.1. ÔN TẬP VÀ THỰC HÀNH KIẾN THỨC LỚP 8
A. VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN
I. ÔN TẬP PHẦN KIẾN THỨC
1. Chị Dậu là một hình tượng trung tâm, là linh hồn của tác phẩm. Bởi chị Dậu là hình ảnh chân thực, đẹp đẽ của người phụ nữ nông dân Việt Nam  trước cách mạng tháng Tám năm 1945.
  * Chị Dậu là  người có tinh thần vị tha, yêu thương chồng con tha thiết.    
+ Chị là người vợ chu đáo, tận tâm: quan tâm, tận tình chăm sóc chồng: D
          + Chị đã tìm mọi cách để bảo vệ chồng khỏi đòn roi của bọn cai lệ.
  * Chị Dậu có một sức sống mạnh mẽ và tinh thần phản kháng tiềm tàng.  
   + Chị vốn hiền dịu, khiêm nhường, biết nhẫn nhục chịu đựng:van xin thiết tha, cầu khẩn
           + Chị Dậu không thuộc loại người yếu đuối chỉ biết nhẫn nhục van xin, trái lại khi bị đẩy tới đường cùng chị đã vùng dậy chống trả quyết liệt bằng cả lí lẽ và hành động:
    - Thoạt đầu, chị cự lại bằng lớ lẽ :
    - Sau đó chống trả bằng hành động với niềm căm giận ngùn ngụt: Chị Dậu quật ngó bọn tay sai hung ỏc trong tư thế ngang hàng, bất khuất với sức mạnh kỡ lạ.
=>Sức mạnh kỡ diệu của chị Dậu là sức mạnh của lũng căm hờn,uất hận vỡ bị dồn nộn đến mức không thể chịu nổi nữa, là sức mạnh của lũng yêu thương chồng con vô bờ bến.
      - Yêu thương chồng con, tiềm tàng sức sốngmạnh mẽ và tinh thần phản kháng.
      - Nhân vật chị Dậu toát lên net đẹp mộc mạc của người phụ nữ nông dân với vẻ đẹp truyền thống.
      - Hình tượng nhân vật chị Dậu là hình tượng điển hình của phụ nữ VN trước CM T8
      -Ngô Tất Tố đó thành cụng đặc biệt trong việc thể hiện chân thực vẻ đẹp và sức mạnh tâm hồn của người phụ nữ nông dân. Với hỡnh tượng chị Dậu, lần đầu tiên trong VHVN có một điển hỡnh chõn thực, toàn vẹn, đẹp đẽ về người phụ nữ nông dân lao động.
- Tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố không chỉ là tác phẩn có giá trị hiện thực mà còn có giá trị nhân đạo sâu sắc, là tác phẩm tiêu biểu  của văn học hiện thực phê phán.
          2. H́ình ảnh người nông dân qua tác phẩm Lăo Hạc
  +Lão Hạc –là truyện ngắn hiện thực xuất sắc gđ 30-45, ra đời trong thời kì xã hội thực dân phong kiến, người nông dân chịu nhiều áp bức, bóc lột.
 - Hình ảnh người nông dân trong tác phẩm  mang vẻ đẹp truyền thống của người nông dân VN
 +Chăm chỉ, cần cù lao động:
  -Lão Hạc: già mà vẫn đi làm thuê, làm mướn “ để kiếm ăn”
  -Ông Hai: ở nơi tản cư “ hì hụi vỡ vạt đất rậm ngoài bờ suối từ sáng tới giờ” ,”tính để trồng thêm vài trăm gốc sắn ăn vào tháng đói” , “ hai vai mỏi nhừ”
 +Giàu lòng lòng tự trọng, sống trong sạch, lương thiện.
  -Lão Hạc: gửi tiền cho ông giáo để lo ma chay cho mình, đỡ phiền hàng xóm,“ từ chối hách dịch” sự giúp đỡ của ông giáo, sẵn sàng chết bằng liều bả chó chứ không sống bất lương như Binh Tư….
-Lão Hạc nổi bật với phẩm chất giàu tình yêu thương con:
 + Lão xót xa khi con phải  đi mộ phu, lão nhớ con da diết( đếm từng ngày, tính từng giờ mong con về “ Bố cậu lâu lắm không có thư về…đi có lẽ đến ba năm…hơn ba năm…ngót bốn năm.. ”
 +Đỉnh điểm của lòng yêu thương con chính là lão sẵn sàng  hi sinh tất cả vì con, sống vì con và chết vì con
 ( Lúc sống: lão kiên quyết giữ mảnh vườn cho con vì nó là tương lai, hạnh phúc của con “ta không cho bán là ta có ý giữ cho nó”, “  cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào..”, nhờ ông giáo  viết văn tự giữ vườn….; Lão buộc phải chọn cái chết cũng là  để giữ vườn cho con. Lão chết bằng bả chó, chứ không sống bất lương như Binh Tư, cũng là để giữ tiếng thơm cho con.)
 3. Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và trẻ em
a. Nhà văn đã thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc cho nỗi bất hạnh của người phụ nữ 
- Thấu hiểu nỗi khổ về vật chất của người phụ nữ. Sau khi chồng chết vì nợ nần cùng túng quá, mẹ Hồng phải bỏ đi tha hương cầu thực buôn bán ngược xuôi dể kiếm sống . Sự vất vả, lam lũ đã khiến người phụ nữ xuân sắc một thời trở nên tiều tuỵ đáng thương “Mẹ tôi ăn mặc rách rưới, gầy rạc đi ”
- Thấu hiểu nỗi đau đớn về tinh thần của người phụ nữ : Hủ tục ép duyên đã khiến mẹ Hồng phải chấp nhận cuộc hôn nhân không tình yêu với người đàn ông gấp đôi tuổi của mình. Vì sự yên ấm của gia đình, người phụ nữ này phải sống âm thầm như một cái bóng bên người chồng nghiện ngập. Những thành kiến xã hội và gia đình khiến mẹ Hồng phải bỏ con đi tha hương cầu thực , sinh nở vụng trộm dấu giếm.
b. Nhà văn còn ngượi ca vẻ đẹp tâm hồn, đức tính cao quý của người phụ nữ:
- Giàu tình yêu thương con. Gặp lại con sau bao ngày xa cách, mẹ Hồng xúc động đến nghẹn ngào. Trong tiếng khóc sụt sùi của người mẹ, người đọc như cảm nhận được nỗi xót xa ân hận cũng như niềm sung sướng vô hạn vì được gặp con. Bằng cử chỉ dịu dàng âu yếm xoa đầu, vuốt ve, gãi rôm...mẹ bù đắp cho Hồng những tình cảm thiếu vắng sau bao ngày xa cách.
c. Là người phụ nữ trọng nghĩa tình
- Dẫu chẳng mặn mà với cha Hồng song vốn là người trọng đạo nghĩa mẹ Hồng vẫn trở về trong ngày giỗ để tưởng nhớ người chồng đã khuất.
d. Nhà văn còn bênh vực, bảo vệ người phụ nữ:
- Bảo vệ quyền bình đẳng và tự do , cảm thông vời mẹ Hồng khi chưa đoạn tang chồng đã tìm hạnh phúc riêng.
-> Tóm lại: Đúng như một nhà phê bình đã nhận xét “Cảm hứng chủ đạo bậc nhất trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả Những ngày thơ ấu lại chính là niềm cảm thương vô hạn đối với người mẹ . Những dòng viết về mẹ là những dòng tình cảm thiết tha của nhà văn. Không phải ngẫu nhiên khi mở đầu tập hồi ký Những ngày thơ ấu, nhà văn lại viết lời đề từ ngắn gọn và kính cẩn: Kính tặng mẹ tôi.” Có lẽ hình ảnh người mẹ đã trở thành người mạch cảm xúc vô tận cho sáng tác của Nguyên Hồng để rồi ông viết về học bằng tình cảm thiêng liêng và thành kính nhất.
2. Nguyên Hồng là nhà văn của trẻ thơ.
a. Nhà văn thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc cho nỗi khổ, nội bất hạnh của trẻ thơ.

- Nhà văn thấu hiểu nỗi thống khổ cả vật chất lẫn tinh thần : Cả thời thơ ấu của Hồng được hưởng những dư vị ngọt ngào thì ít mà đau khổ thì không sao kể xiết : Mồ côi cha, thiếu bàn tay chăm sóc của mẹ, phải ăn nhờ ở đậu người thân Gia đình và xã hội đã không cho em được sống thực sự của trẻ thơ .....nghĩa là được ăn ngon, và sống trong tình yêu thương đùm bọc của cha mẹ, người thân. Nhà văn còn thấu hiểu cả những tâm sự đau đớn của chú bé khi bị bà cô xúc phạm .....
b. Nhà văn trân trọng, ngợi ca phẩm chất cao quý của trẻ thơ:
- Tình yêu thương mẹ sâu sắc mãnh liệt . Luôn nhớ nhung về mẹ . Chỉ mới nghe bà cô hỏi “Hồng, mày có muốn vào Thanh Hoá chơi với mợ mày không”, lập tức, trong ký ức của Hồng trỗi dậy hình ảnh người mẹ.
- Hồng luôn tin tưởng khẳng định tình cảm của mẹ dành cho mình. Dẫu xa cách mẹ cả về thời gian, không gian, dù bà cô có tinh ma độc địa đến đâu thì Hồng cũng quyết bảo vệ đến cùng tình cảm của mình dành cho mẹ . Hồng luôn hiểu và cảm thông sâu sắc cho tình cảnh cũng như nỗi đau của mẹ . Trong khi xã hội và người thân hùa nhau tìm cách trừng phạt mẹ thì bé Hồng với trái tim bao dung và nhân hậu yêu thương mẹ sâu nặng đã nhận thấy mẹ chỉ là nạn nhân đáng thương của những cổ tục phong kiến kia . Em đã khóc cho nỗi đau của người phụ nữ khát khao yêu thương mà không được trọn vẹn . Hồng căm thù những cổ tục đó: “Giá những cổ tục kia là một vật như .....thôi” 
- Hồng luôn khao khát được gặp mẹ. Nỗi niềm thương nhớ mẹ nung nấu tích tụ qua bao tháng ngày đã khiến tình cảm của đứa con dành cho mẹ như một niềm tín ngương thiêng liêng thành kính. Trái tim của Hồng như đang rớm máu, rạn nứt vì nhớ mẹ .Vì thế thoáng thấy người mẹ ngồi trên xe, em đã nhận ra mẹ ,em vui mừng cất tiếng gọi mẹ mà bấy lâu em đã cất giấu ở trong lòng 
c. Sung sướng khi được sống trong lòng mẹ. 
- Lòng vui sướng được toát lên từ những cử chi vội vã bối rối từ giọt nước mắt giận hờn, hạnh phúc tức tưởi, mãn nguyện
d. Nhà thơ thấu hiểu những khao khát muôn đời của trẻ thơ:
- Khao khát được sống trong tình thương yêu che chở của mẹ, được sống trong lòng mẹ. 
                                 II. THỰC HÀNH CÁC DẠNG ĐỀ
Câu 1: ( 14 điểm).
Có ý kiến cho rằng: "Có nhiều tác phẩm văn học giai đoạn đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng tám 1945 đã phản ánh được nỗi khổ đau  của những kiếp lầm than".
          Qua những tác phẩm truyện đã học và đọc thêm trong giai đoạn văn học này, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Gợi ý: ( 14 điểm).
1. Yêu cầu chung:
- HS nắm được cách viết một bài văn nghị luận chứng minh dưới dạng đề tổng hợp.
- Trình bày sạch đẹp, bố cục rõ ràng, mạch lạc. Ngôn ngữ trong sáng, có cảm xúc. - Diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi dùng từ, đặt câu, chữ viết rõ ràng.
2. Yêu cầu cụ thể:
Học sinh có thể có nhiều cách trình bày nhưng phải đảm bảo các ý cơ bản sau:
 - Dẫn dắt, trích dẫn ý kiến.
- Nêu sơ qua vài nét về tình hình xã hội những năm 1930-1945.
- Các nhà văn tập chung vào việc tái hiện cuộc sống lầm than của người dân trong xã hội đương thời qua các tác phẩm văn học:
+ Ngô Tất Tố với tác phẩm "Tắt Đèn': Thể hiện thành công sức sống tiềm tàng của người phụ nữ nông thôn Việt Nam qua nhân vật chị Dậu. Đồng thời phản ánh được những mâu thuẫn gay gắt xảy ra trong xã hội ta trước Cách mạng tháng tám 1945.( Học sinh tập trung phân tích nhân vật chị Dậu).
+ Nam Cao với tác phẩm "Lão Hạc": Miêu tả cuộc sống nghèo nàn, khốn khổ của người nông dân những năm 1943  qua nhân vật lão Hạc- một người nông dân bị bần cùng hoá. Qua đó tác giả thể hiện cái nhìn nhân đạo và thông cảm với nông dân.
         + Nhà văn Nguyên Hồng với tác phẩm "Những ngày thơ ấu": Phản ánh chủ yếu nỗi thống khổ của người thiếu phụ và trẻ em qua nhân vật người mẹ bé Hồng và bé Hồng.
         + Ngoài ra học sinh có thể lấy thêm các tác phẩm được đọc thêm để chứng minh cho nhận định VD "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao hay "Bước đường cùng" của Nguyễn Công Hoan....
- Khẳng định lại ý kiến.
 Câu 2  (10 điểm) Có ý kiến cho rằng : Chị Dậu và Lão Hạc là những hình tượng tiêu biểu cho phẩm chất và số phận của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.
  Qua đoạn trích: Tức nước vỡ bờ ( Ngô Tất Tố ),  Lão Hạc ( Nam Cao ), em hãy làm sáng tỏ nhận định trên5. Chị Dậu và Lão Hạc là những hình tượng tiêu biểu cho phẩm chất và số phận của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.
Gợi ý: 1) Yêu cầu chung:
     - Văn nghị luận chứng minh (làm sáng tỏ một nhận định qua bài văn nghị luận văn học).
     - Yêu cầu HS biết vận dụng kiến thức đã học về tập làm văn và văn học để làm bài, trong đó có kết hợp với phát biểu cảm xúc, suy nghĩ và mở rộng bằng một số bài văn, bài thơ khác để làm phong phú thêm cho bài làm.
     - Khuyến khích những bài làm có sự sáng tạo, có cảm xúc, giàu chất văn…
                  2) Yêu cầu cụ thể:
1,  Mở bài :
     Học sinh dẫn dắt và nêu đ­ược vấn đề nghị luận : Chị Dậu và Lão Hạc là những hình tượng tiêu biểu cho phẩm chất và số phận của người nông dân Việt Nam trư­ớc cách mạng tháng Tám. (1 điểm)
2,  Thân bài:
a. Chị Dậu và Lão Hạc là những hình t­ượng tiêu biểu cho phẩm chất tốt đẹp của
 ng­ười nông dân Việt Nam tr­ước cách mạng .
* Chị Dậu : Là một mẫu mực vừa gần gũi vừa cao đẹp của ngư­ời phụ nữ nông thôn Việt Nam thời kì trư­ớc cách mạng : Có phẩm chất của ngư­ời phụ nữ truyền thống, có vẻ đẹp của ng­ười phụ nữ hiện đại. Cụ thể :
- Là một người vợ giàu tình thương : Ân cần chăm sóc ng­ười chồng ốm yếu giữa vụ sưu thuế.  (học sinh phân tích lí giải và dẫn chứng) . (1 điểm)                                                                                                                                                                        - Là người phụ nữ cứng cỏi, dũng cảm để bảo vệ chồng .  (học sinh phân tích lí giải và dẫn chứng) . (1 điểm)                                         
* Lão Hạc :Tiêu biểu cho phẩm chất ngư­ời nông dân thể hiện ở  :
 - Là một lão nông chất phát, hiền lành, nhân hậu (học sinh phân tích lí giải và dẫn chứng) . (1 điểm)
 - Là một lão nông nghèo khổ mà trong sạch, giàu lòng tự trọng  (học sinh phân tích lí giải và dẫn chứng) . (1 điểm)
b. Họ là những hình tượng tiêu biểu cho số phận đau khổ, bi thảm của ng­ười nông dân Việt Nam trước cách mạng :
* Chị Dậu
    Số phận điêu đứng : Nghèo khổ, bị bóc lột sưu thuế, chồng ốm và có thể bị đánh, bị bắt lại.  (học sinh phân tích lí giải và dẫn chứng) . (1 điểm)                                                                                                                                      * Lão Hạc
  Số phận đau khổ, bi thảm : Nhà nghèo, vợ chết sớm, con trai bỏ làng đi làm phu cao su, thui thủi sống cô đơn một mình; tai hoạ dồn dập, đau khổ vì bán cậu vàng; tạo đ­ược món nào ăn món nấy, cuối cùng ăn bả chó để tự tử.  (học sinh phân tích lí giải và dẫn chứng) . (1 điểm)
c. Bức chân dung Chị Dậu và Lão Hạc đã tô đậm giá trị hiện thực và tinh thần nhân đạo của hai tác phẩm.
    Nó bộc lộ cách nhìn về ngư­ời nông dân của hai tác giả. Cả hai nhà văn đều có sự đồng cảm, xót thương đối với số phận bi kịch của ngư­ời nông dân ; đau đớn, phê phán xã hội bất công, tàn nhẫn. Chính xã hội ấy đã đẩy người nông dân vào hoàn cảnh bần cùng, bi kịch; đều có chung một niềm tin mới về khả năng chuyển biến tốt đẹp của nhân cách con ngư­ời. Tuy vậy, mỗi nhà văn cũng có cách nhìn riêng : Ngô Tất Tố có thiên hư­ớng nhìn người nông dân trên góc độ đấu tranh giai cấp, còn Nam Cao chủ yếu đi sâu vào phản ánh sự thức tỉnh trong nhận thức về nhân cách một con người… Nam Cao đi sâu vào thế giới tâm lý của nhân vật, còn Ngô Tất Tố chủ yếu miêu tả nhân vật qua hành động để bộc lộ phẩm chất… (1 điểm)
 3,  Kết bài :  Khẳng định lại vấn đề.  (học sinh phân tích lí giải và dẫn chứng) . (1 điểm)
         ¡ Về hình thức :      (1 điểm)
                Bố cục rõ ràng, đầy đủ, trình bày sạch đẹp, diễn đạt l­ưu loát, ít sai chính tả.
Bài làm đúng thể loại.    (học sinh phân tích lí giải và dẫn chứng) .
 Câu 3: (12 điểm)
Bằng những hiểu biết về các văn bản truyện đã học ở chương trình Ngữ văn lớp 8, em hãy chứng minh rằng văn học của dân tộc ta luôn ngợi ca tình yêu thương giữa  con người với con người
Gợi ý: (12 điểm)    
       * Yêu cầu chung:
          a. Thể loại: Sử dụng thao tác lập luận chứng minh. HS cần thực hiện tốt các kĩ năng làm văn nghị luận đã được học ở lớp 7 và lớp 8: dựng đoạn, nêu và phân tích dẫn chứng, vận dụng kết hợp đưa các yếu tố miêu tả, tự sự và biểu cảm vào bài văn nghị luận.
          b. Nội dung: Văn học của dân tộc ta luôn đề cao tình yêu thương giữa người với người.
- HS cần nắm vững nội dung ý nghĩa và tìm dẫn chứng phù hợp với nội dung vấn đề cần giải quyết.
- Hệ thống các dẫn chứng tìm được sắp xếp theo từng phạm vi nội dung, tránh lan man, trùng lặp.
- Dẫn chứng lấy trong các văn bản truyện đã học ở chương trình Ngữ văn 8, chủ yếu là phần văn học hiện thực.
         c. Về hình thức: Bài viết có bố cục chặt chẽ, đủ ba phần; dẫn chứng chính xác; văn viết trong sáng, có cảm xúc; không mắc lỗi chính tả và lỗi diễn đạt; trình bày sạch sẽ, chữ viết rõ ràng.
* Yêu cầu cụ thể:
          a) Mở bài:                                                                               (1,5 điểm)
- Có thể nêu mục đích của văn chương (văn chương hướng người đọc đến với sự hiểu  biết và tình yêu thương).
- Giới thiệu vấn đề cần giải quyết.
      b) Thân bài:                                                                          (8 điểm)
Tình yêu thương giữa người với người thể hiện qua nhiều mối quan hệ xã hội.
- Tình cảm xóm giềng:
+ Bà lão láng giềng với vợ chồng chị Dậu (Tức nước vỡ bờ - Ngô Tất Tố).
+ Ông giáo với lão Hạc (Lão Hạc - Nam Cao).
- Tình cảm gia đình:
+ Tình cảm vợ chồng: Chị Dậu ân cần chăm sóc chồng chu đáo, quên mình bảo vệ chồng (Tức nước vỡ bờ - Ngô Tất Tố).
+ Tình cảm cha mẹ và con cái:
• Người mẹ âu yếm đưa con đến trường (Tôi đi học - Thanh Tịnh); Lão Hạc thương con (Lão Hạc - Nam Cao).
• Con trai lão Hạc thương cha (Lão Hạc - Nam Cao); bé Hồng thông cảm, bênh vực, bảo vệ mẹ (Trong lòng mẹ - Nguyên Hồng).
c) Kết bài:                                                                                 (1,5 điểm)
Nêu tác dụng của văn chương (khơi dậy tình cảm nhân ái cho con người để con người sống tốt đẹp hơn).        
          * Hình thức: (1 điểm) Có đủ bố cục 3 phần, kết cấu chặt chẽ, liên hệ hợp lí, dẫn chứng chính xác; văn viết trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả, chữ viết đẹp.
B. VĂN HỌC LÃNG MẠN
I. ÔN TẬP PHẦN KIẾN THỨC
1. Thơ lãng mạn Việt Nam 1930- 1945.( Phong trào Thơ mới).
     HS cần nắm được các kiến thức cơ bản sau:
a. Lịch sử phong trào Thơ Mới:
   - Hoàn cảnh lịch sử phát triển phong trào Thơ mới.
   - Cuộc đấu tranh giữa thơ cũ và Thơ mới.
   - Những thời kì phát triển và suy thoái của phong trào “ Thơ mới”.
 b. Tác giả, thuộc lòng các bài thơ vànội dung, nghệ thuật đặc sắc của từng bài được học trong chương trình văn 8 gồm:
   - Thế Lữ                        -> Nhớ rừng.
   - Vũ Đình Liên             -> Ông đồ .
   - Tế Hanh                      -> Quê hương.
      Ngoài ra GV cần cung cấp thêm cho HS các bài thơ tiêu biểu khác trong phong trào Thơ mới để HS vận  dụng khi làm các đề bài tổng hợp như:
   -  Mùa xuân chín - Đây thôn Ví Dạ. (Hàn Mặc Tử )             
   -  Nắng mới - Tiếng thu. (Lưu Trọng Lư )           
   -  Tràng giang - Buồn đêm mưa. (Huy Cận)                     
   -  Chợ tết .  (Đoàn Văn Cừ )             
   -  Mùa xuân xanh.  (Nguyễn Bính)              
   2. Cảm xúc lãng mạn được thể hiện trong bài thơ Nhớ rừng
- Bài thơ “Nhớ rừng” là bài thơ hay của Thế Lữ, nhưng cũng là bài thơ hay của phong trào Thơ Mới. Điểm nổi bật của tâm hồn lãng mạn là giàu mộng tưởng, khát vọng và cảm xúc. Người nghệ sỹ lãng mạn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám-1945 cảm thấy cô đơn, tù túng trong xã hội bấy giờ nhưng bất lực, họ chỉ còn biết tìm cách thoát li thực tại ấy bằng chìm đắm vào trong đời sống nội tâm tràn đầy cảm xúc. Tâm hồn lãng mạn ưa thích sự độc đáo, phi thường, ghét khuôn khổ, gò bó và sự tầm thường. Nó có hứng thú giãi bầy những cảm xúc thiết tha mãnh liệt, nhất là nỗi buồn đau.
- Cảm xúc lãng mạn trong bài thơ nhớ rừng được thể hiện khá rõ ở những khía cạnh sau:
+ Hướng về thế giới mộng tưởng lớn lao, phi thường tráng lệ bằng một cảm giác trào dâng mãnh liệt. Thế giới ấy hoàn toàn đối lập với thực tại tầm thường, giả dối. Trong baì thơ, thế giới mộng tưởng chính là cảnh đại ngàn hùng vĩ và kèm theo đó là cảnh oai hùng của chúa sơn lâm.
+ Diễn tả thấm thía nỗi đau trong tinh thần bi tráng, tức là nỗi uất ức xót xa của hòm thiêng khi sa cơ lỡ vận.
3. Văn học lãng mạn  Việt Nam đầu thế kỷ XX ( 1930 – 1945) thường ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên
-  Hình ảnh thiên nhiên trong thơ ca lãng mạn là những hình ảnh bình dị, thân thương gắn bó với cuộc sống lao động của con người. ( Quê hương – Tế Hanh)
- Đó là bức tranh thiên hùng vĩ, tráng lệ, bí ẩn của núi rừng. ( Nhớ rừng – Thế Lữ)
- Thơ ca lãng mạn còn ca ngợi về mùa xuân Việt Nam rực rỡ, tuyệt đẹp làm say đắm lòng người. ( Mùa xuân chín- Hàn Mặc Tử; Chợ tết - Đoàn văn Cừ…)
II. THỰC HÀNH CÁC DẠNG ĐỀ
Câu 1: (2điểm). Có ý kiến  cho rằng bài thơ Nhớ rừng - Ngữ văn 8, tập 2- tràn đầy cảm xúc lãng mạn. Em hiểu thế nào là lãng mạn? Cảm xúc lãng mạn được thể hiện trong bài thơ Nhớ rừng như thế nào?
Câu 2 : (7đ).
          “ Thơ mới thể hiện lòng yêu nước ở nhiều khía cạnh khác nhau.”
     Bằng hiểu biết của em về một số bài thơ thuộc dòng văn học lãng mạn lớp 8. Em hãy làm rõ nhận định trên.
Câu 3   Nhà phê bình Hoài Thanh có nhận xét về bài thơ “ Nhớ rừng” như sau :
       “ Ta tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường. Thế Lữ như một viên tướng đều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được”.
          Em hiểu như  thế nào về ý kiến đó ? Qua bài thơ “Nhớ rừng”, hãy chứng minh nhận xét của Hoài Thanh.
Câu 4 :   Văn học lãng mạn Việt Nam (giai đoạn 1930 – 1945) thường ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, của “ngày xưa” và thường đượm buồn. Bằng một số bài thơ đã học và đọc thêm trong phong trào “Thơ mới”, em hãy chứng minh nhận định trên.
Câu 5:  Quê hương, đất nước Việt Nam trong trái tim những nhà Thơ mới.
C. VĂN HỌC CÁCH MẠNG
I. ÔN TẬP PHẦN KIẾN THỨC
1. "Thơ Bác đầy trăng".
- Giới thiệu sơ qua về đề tài viết về trăng trong thơ ca nói chung, trăng trong thơ Bác nói riêng.
- Trong thơ Bác, trăng luôn có mặt, trăng luôn là người bạn gần gũi, thân mật, người bạn tri âm, tri kỉ.
+ Trong những ngày sống ở chiến khu Việt Bắc đầy khó khăn gian khổ nhưng  trong thơ Bác trăng vẫn luôn hiện ra thật gần gũi, thơ mộng. (Học sinh có thể lấy dẫn chứng qua các bài thơ: "Cảnh khuya", "Rằm tháng giêng, Đi thuyền trên sông đáy"... để chứng minh.)
+ Ngay cả khi bị bắt giam trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác vẫn thả hồn mình giao hoà với ánh trăng. Trăng với người tìm đến với nhau như những người bạn tri âm, tri kỉ. (Dẫn chứng: "Ngắm trăng", "Đêm lạnh"...)
+ Mặc dù bận trăm công nghìn việc lo cho dân cho nước nhưng Bác vẫn luôn dành một tình cảm ưu ái đặc biệt cho trăng. Dường như Bác ở đâu, đi đâu trăng cũng theo Người để bầu bạn và tìm sự đồng điệu của hai tâm hồn. (Dẫn chứng: "Tin thắng trận"...
Đọc thơ Bác ta được chiêm ngưỡng vẻ đẹp quyến rũ của trăng ở nhiều thời điểm khác nhau, dù ở đâu, vào lúc nào trăng cũng đềù hấp dẫn và thật gắn bó với Người. Trăng với Bác là người bạn tri âm, tri kỉ.
Chứng minh nhận định của nhà phê bình văn học Hoài Thanh qua các bài thơ viết về trăng của Bác Hồ:
- Bài thơ “ Rằm tháng giêng”: Ánh trăng tràn ngập dòng sông, ánh trăng tỏa sáng,  ánh trăng như “ngân” lên, sáng lên cùng con thuyền.
- Bài thơ “ Cảnh khuya”: Ánh trăng tràn ngập khu rừng. Trăng đã biến thành một người họa sĩ. Trăng không chỉ đẹp trên trời cao mà tạo ra thêm  cảnh đẹp cho mọi người say đắm dưới mặt đất.
- Bài thơ “ Tin thắng trận”: Trăng là người bạn tri kỉ. Bác nhân hóa trăng như một con người .
- Trăng còn là dấu hiệu báo cho Bác biết: đã đến Tết trung thu, ngày tết của thiếu niên, nhi đồng:
“ Trung thu trăng sáng như gương,
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng.”
- Trong tập thơ “ Nhật kí trong tù”, “ Ngắm trăng “ là một trong những bài thơ hay nhất. Trăng tỏa sáng vào trong nhà tù. Bác và  trăng như hòa làm một.
               2. Màu sắc cổ điển và tính hiện đại trong thơ Bác
*.Màu sắc cổ điển:
Khái niệm này thường được đề cập tới trong những bài thơ mang tính nghệ thuật cao của Hồ Chí Minh.Màu sắc cổ điển trong thơ người được thể hiện ở các phương diện sau
-Sử dụng thể thơ cổ điển, nhất là thơ tứ tuyệt
-Đề tài chủ yếu là thiên nhiên
- Bút pháp miêu tả: quan sát từ cao đến xa với cái nhìn bao quát toàn cảnh.Bút pháp chấm phá là bút pháp nổi bật nhất (nghĩa là chỉ bằng vài nét vẽ đơn sơ mà có thể thâu tóm được linh hồn chung của bức tranh)
-Nhân vật trữ tình: mang phong thái của nhà hiền triết phương đông thưởng ngoạn cảnh thiên nhiên
*.Tính chất hiện đại:
-Cảnh vật thiên nhiên trong thơ Người không tĩnh mà luôin vận động, một sự vận động khoẻ khoắn hướng tới ánh sáng và tương lai.
-Sự sống con người bao giờ cũng là trung tâm của cảnh.Con người luôn luôn hành động để cải tạo thế giới, làm chủ thế giới.
-Nhân vật trữ tình trong thơ mang cốt cách của một chiến sĩ cách mạng vĩ đại
3. Chân dung Hồ Chí Minh qua: “ Tức cảnh Pác bó”, “ Ngắm trăng”, “ Đi đường” – Ngữ văn lớp 8 – tập 2.
2. Giới thiệu chân dung Hồ Chí Minh .
* Đại nhân:
+ yêu tổ quốc.
+ yêu thiên nhiên.
+ yêu thương con người.
-> “Bác ơi! Tim Bác mênh mông thế .
       Ôm cả non sông mọi kiếp người”
                                                  ( Tố Hữu )
* Đại trí:
+ bài học đánh cờ, thể hiện chiến lược quân sự , lãnh đạo.
“ lạc nước hai xe đành bỏ phí
Gặp thời một nước cũng thành công”.
                                                       ( Nhật kí trong tù).
* Đại dũng: Tinh thần thép: Ung dung, lạc quan, tự tại. Trong một số bài  của bác). Bác chỉ nhắc đến một từ thép trong bài đề từ của  “Nhật kí trong tù”. Nhưng bài nào, dòng nào, câu nào củng ánh lên tinh thần thép:
- Đi đường – Rèn luyện ý trí nghị lực.
- Ngắm trăng: Vượt lên hoàn cảnh.
- Tức cảnh Pác Bó: lạc quan , tin tưởng cuộc sống.
3. Mở rộng nâng cao vấn đề: Liên hệ thú lâm tuyền Bác khác với người xưa (1.0).
- Người xưa: Nguyễn Trãi – Nguyễn Khuyến: Sống ẩn mình, gửi tâm sự với cảnh, quay về với thiên nhiên.
- Hồ Chí Minh: Tình yêu thiên nhiên gắn liền với hoạt động yêu nước, cứu nước.
-> Chất cộng sản trong con người Hồ Chí Minh.
- Hình ảnh, tư tưởng Bác gắn với hành động của bản thân em và thế hệ trẻ hôm nay.
                                    II. THỰC HÀNH CÁC DẠNG ĐỀ
Câu 1: Một số tác phẩm thơ văn cách mạng đã khắc hoạ hình tượng người chí sĩ yêu nước đầu thế kỷ XX, dù trong hoàn cảnh tù đầy gian khổ, hiểm nguy vẫn luôn có tư thế hiên ngang, khí phách hào hùng và ý chí kiên định”. Dựa vào các tác phẩm “Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông”  của Phan Bội Châu và tác phẩm “ Đập đá ở Côn Lôn” của Phan Châu Trinh
Gợi ý:
- Đó là những con người thân bị tù đầy mà tư thế vẫn hiên ngang, lẫm liệt, khí phách thật hào hùng.
+ Với Phan Bội Châu thì nhà tù chỉ là chốn nghỉ chân của bậc phong lưu, hoà kiệt trên đường sự nghiệp. Vào tù mà vẫn phong tháI đường hoàng, ung dung như chủ động nghỉ chân. Vào tù mà vẫn hào kiêt, phong lưu , hoàn cảnh ngục tù không làm thay đổi chất hào kiệt, phong lưu vốn là bản chất của con người họ.
+ Với Phan Châu Trinh thì người tù như biến thành vị thần vũ trụ, còn lao dịch khổ sai thì biến thành cuộc chinh phục dũng mãnh.
- Họ coi thường hiểm nguy.
- Đó là những con người trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn kiên định ý chí.
Câu 2. (5,0 điểm):
          " Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp
             Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh
             Vần thơ của Bác vần thơ thép
             Mà vẫn mênh mông bát ngát tình".
                                                          (Hoàng Trung Thông)
          Em hiểu thế nào về chất thép, chất tình trong đoạn thơ trên? Bằng hai bài thơ "Ngắm trăng", "Đi đường" trong tập "Nhật kí trong tù" của Hồ Chí Minh em hãy làm sáng tỏ vấn đề đó.
Gợi ý: a. Yêu cầu về kĩ năng: Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận giải thích vấn đề gợi ra từ một câu tục ngữ; kết hợp bày tỏ quan điểm của bản thân.
-         Lí lẽ, dẫn chứng tiêu biểu, bố cục hợp lí; diễn đạt rõ ràng, mạch lạc.
b. Yêu cầu về kiến thức: Học sinh nêu được những ý sau:
* Giải thích:
- Thép: Tinh thần "thép" vượt lên trên hoàn cảnh; sự tự do về mặt tinh thần, tinh thần lớn lao, cao cả; lạc quan tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng.
- Tình: vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, yêu thiên nhiên tha thiết, mãnh liệt.
* Chứng minh: h/s có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song đảm bảo các ý sau:
- Bài "Ngắm trăng":
+ Thép là cuộc vượt ngục về mặt tinh thần, lạc quan yêu đời.
+ Tình: yêu trăng, băn khoăn, bối rối không biết lấy gì để thưởng trăng, cho xứng với vẻ đẹp có trăng; trăng và thi nhân có cuộc giao cảm độc đáo...
- Bài "Đi đường".
+ Thép: vượt lên trên hoàn cảnh gian khó của quãng đường đèo núi khi bị giải từ nhà lao này đến nhà lao khác.
+ Tình: mãn nguyện với cảnh đẹp thiên nhiên mở ra khi lên đến đỉnh cao nhất.
+ Lớp nghĩa ẩn dụ bộc lộ chất thép: tin tưởng vào thắng lợi to lớn của cách mạng sau khi trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách...
* Đánh giá:
- Chất thép chất tình hòa quyện trong thơ Bác, có mối quan hệ độc đáo. Đó cũng là vẻ đẹp "chiến sĩ" và "thi sĩ" trong thơ Bác.
-         (Đan xen phân tích giá trị nghệ thuật của hai bài thơ)
3.2.2. DẠNG BÀI RÈN LUYỆN KỸ NĂNG CẢM THỤ VĂN CHƯƠNG.
          1. Ôn lại các yếu tố nghệ thuật khi cảm thụ thơ :
Đọc tác phẩm văn học trước hết chúng ta tiếp xúc với những hình thức nghệ thuật cụ thể của ngôn từ nghệ thuật. Đó là những dấu câu và cách ngắt nhịp, là vần điệu, âm hưởng và nhạc tính, là từ ngữ và hình ảnh, là câu và sự tổ chức đoạn văn, là văn bản và thể loại của văn bản… Cảm thụ văn học không được thoát ly văn bản có nghĩa là trước hết phải bám sát các hình thức biểu hiện lên của ngôn từ nghệ thuật, chỉ ra vai trò và ý nghĩa của chúng trong việc thể hiện nội dung. Vậy chúng ta cảm thơ trữ tình phải dựa trên thi pháp.
1.  Nhịp thơ:
Nhịp điệu có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với thơ trữ tình. Nó giúp nhà thơ nâng cao khả năng biểu cảm, cảm xúc. Phân tích thơ trữ tình tình không thể không chú ý đến phân tích nhịp thơ. Để xác định nhịp điệu của từng bài thơ ngoài việc đọc từng câu thơ cho ngân vang âm điệu và làm bừng sang hình ảnh thơ, việc nắm được đặc điểm chung của mỗi thể loại cũng là điều rất cần thiết. Thường thường nhip điệu câu thơ lục bát uyển chuyển,mềm mại, thanh thoát, nhịp điệu thơ thất ngôn bát cú hài hòa, chặt chẽ, nhịp của thơ tự do, thơ hiện đại rất phóng khoáng, phong phú.
Trong thơ trữ tình, cùng với dấu câu, cách ngắt nhịp cần được xem là một từ đa nghĩa, một từ đặc biết trong vốn ngôn ngữ chung của nhân loại. Chúng ta đều biết rằng trong những tình huống giao tiếp thong thường của cuộc sống, im lặng lắm khi lại nói được rất nhiều: Khi căm thù tuột đỉnh, lúc xao xuyến bâng khuâng, khi cô đơn buồn bã, lúc xúc động dâng trào… Những cung bậc tình cảm ấy nhiều khi không được mô tả bằng chữ nghĩa. Sự ngắt nhịp là một trong những phương tiện hữu hiệu để thể hiện “sự im lăng không lời” tạo nên “ý tại ngôn ngoại”, tính hàm nghĩa tạo ra điều không thể nói.
          VD: Khi dạy đoạn ngâm trong bài”Sau phút chia ly”. Ta thấy tâm trạng nhà thơ chi phối trực tiếp cách tổ chức, vận hành nhịp điệu của khúc ngâm. Với tâm trạng lưu luyến, nỗi buồn xa cách giữa người chinh phu và người chinh phụ. Chúng ta phải đọc đúng cách ngắt nhịp của khúc ngâm mới phân tích được khúc ngâm một cách sâu sắc.
2.       Vần thơ
Tiếng Việt rất giàu tính nhạc. Hệ thống vần điệu và thanh điệu là những yếu tố cơ bản tạo nên tính nhạc của Tiếng Việt nói chung và ngôn từ văn học nói riêng. Vì vậy khi phân tích thơ trữ tình giáo viên cần chú ý phân tích vần thơ, cách gieo vần
VD:   Cùng trông lại mà cung chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.
Vần của các câu được hiện với nhau trong đoạn thơ trên là sự hài hòa trong cùng một âm vực cao thấp, một trường độ âm thanh phát ra. Đó là sự hài hòa có được từ việc phối âm giữa các tiếng trong một cặp song thất. Xét từng cặp câu chúng ta thấy được sự hòa âm giữa câu 1 và câu 2, giữa câu 3 và câu 4 nhờ vào những âm giống nhau giữa tiến thứ bảy của câu bảy và tiếng thứ năm của câu bảy ở câu song thất, giữa tiếng thứ sáu của câu sáu và tiếng thứ sáu của câu tám trong cặp lục bát. Với sự hòa âm này của các câu thơ như níu kéo, lưu giữ lấy nhau trong từng đoạn hay cả bài thơ tạo nên sự trầm lắng, mênh mông, bang khuâng, da diết của cái buồn trong đoạn thơ, góp phần biểu đạt một cách hiệu quả tâm trạng nhân vật trữ tình.
Tạo nên nhạc tính của thơ thực ra không chỉ có vần và hệ thống âm điệu mà ngay cả các âm trong mỗi tiếng cũng có những giá trị biểu đạt nhất định. Theo Đinh Trọng Lạc âm “a” gợi sự vui tươi bao la “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” ( Phạm Tiến Duật), âm “r” gợi sự hãi hùng run sợ “Những luồng run rẩy rung rinh lá” (Xuân Diệu), Âm “u”, “âu” gợi sự u sầu bâng khuâng “Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu – Ngàn dâu xanh ngắt một màu”.
Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ để minh họa cho tính nhạc của ngôn ngữ Việt trong thơ. Khi ta phân tích tác phẩm văn học (Nhất là thơ) Giáo viên cần hết sức chú trọng yếu tố này. Khi thấy âm hưởng, nhạc điệu của câu thơ không bình thườngm, có sự chuyển đổi thì hãy tập trung phân tích chỉ ra giá trị, vai trò và tác dụng của chúng trong việc thể hiện nội dung.
3.       Từ ngữ và các biện pháp tu từ:
Đây là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của hình thức chất liệu ngôn từ. Bởi vì mọi nội dung cần thể hiện của tác phẩm văn học không thể có cách nào khác là nhờ vào hệ thống từ ngữ ấy. Cá phương tiện như dấu câu nhịp điệu ngữ âm đã nêu ở trên chỉ có ý nghĩa khi nằm trong một văn bản mà từ ngữ là nền tảng. Nhà văn muốn mô tả, tái hiện hiện thực phải thông qua từ ngữ. Muốn đánh giá được nhà văn viết về những điều đó như thế nào lại cũng phải thong qua chữ nghĩa trong văn bản “Văn học là nghệ thuật của ngôn từ” Chính là như vậy. Do tầm quan trọng ấy mà người ta coi lao động của nhà văn là thứ lao động chữ nghĩa. Có thể nói ngôn từ là một đặc trưng quan trọng và nổi bật của văn học. Vì thế giáo viên khi dạy phải chú ý một số điểm sau:
- Thứ nhất: Cảm nhận văn học không thể thoát ly và bỏ qua yếu tố từ ngữ. Muốn phân tích tốt từ ngữ trước hết phải nắm vững nghĩa của từ (Nghĩa chung và nghĩa trong văn cảnh cụ thể) sau đó luôn luôn suy nghĩ và đặt câu hỏi: Tại sao nhà văn dung từ này mà không dung từ khác? VD: trong bài “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” của Lý Bạch, câu thơ đầu “Sàng tiền minh nguyệt quang”, tại sao tác giả lại dung từ “sàng” mà không dung từ “thượng” đều có nghĩa là giường? hoặc tại sao từ ngữ này lại xuất hiện nhiều như thế? Có bao nhiêu từ đồng nghĩa với từ này? Có thể thay từ khác được không? VD: Trong bài “Tiếng gà trưa” ( Xuân Quỳnh) torng khổ thơ cuối từ “vì” có thay từ khác được không? Tại sao tác giả lại dung từ đó? hoặc giáo viên có thể đặt câu hỏi “ trong câu ấy, đoạn ấy từ nào cần chú ý?” Giáo viên cần phải lưu ý cho học sinh biết một bài thơ có những từ có giá trị diễn đạt đắt nhất. trong thực tế có những giáo viên không để ý khi phận tích, lại say sưa tán tụng những từ ngữ không phải nhãn tự của bài thơ sẽ làm mất thời gian và không làm nổi bật được bài thơ. Trong trường hợp phân tích các bài thơ những tác phẩm văn học dịch, phải thật thận trọng khi phân tích từ ngữ. Bởi vì những từ đưa ra bình giá chưa chắc là những từ tác giả dùng trong nguyên bản.
- Thứ hai: Người ta nói nhiều đến phân tích hình ảnh trong tác phẩm văn học, nhưng phân tích hình ảnh trong tác phẩm văn học là phân tích từ ngữ. Nhiều người đã nhầm tưởng phân tích từ ngữ và hình ảnh khác nhau nhưng thật ra là một. VD: Câu thơ của Nguyễn Du tả chân dung Tú Bà.
                             Thoắtt trông lờn lợt màu da
                             Ăn gì to lớn đãy đà làm sao?
                                                (Truyện Kiều)
Vẽ chính xác thần thái của một mụ chủ nhà chứa, bọn buôn thịt bán người. . Ta cũng thấy rõ thái độ của tác giả đối với loại người đó. Chữ “lờn lợt” lột tả được rõ nét nhất thần thái của Tú Bà! thực khó diễn tả bằng những từ ngữ khác: Vừa bóng nhẫy, vừa mai mái hay vàng bủng chăng? Đó là bộ mặt “thiếu vệ sinh” có nhà phê bình cho rằng ta đọc câu thơ này có cảm giác lợm giọng là như thế. Còn hai chữ “ăn gì” lại dường như muốn liệt mụ chủ chứa vào một giống loài gì đó không phải giống người. Bởi vì giống người thì ăn cơm, ăn thịt, ăn gạo, ăn cá … Chu “ăn gì” là sao? Đó là một ví dụ để thấy phân tích hinh anh và phân tích từ ngữ là một điều giáo viên cần lưu ý
-        Hệ thống từ ngữ hình ảnh, cảm giác trong Tiếng Việt rất phong phú, da dạng
          VD:   Gợi về tâm trạng như: xao xuyến, bang khuâng, phân vân …
                   Gợi về thị giác: La đà, lơ lửng, chấp chới …
                   Gợi về thính giác: mặn chat, chua lòm, ngọt lịm…
                   Gợi về xúc giác: Lạnh ngát, nóng bỏng, xù xì…
-        Thứ ba: Để tạo cách nói, cách viết có hình ảnh, gợi hình tượng bằng từ ngữ. Các nhà văn có thể vận dụng những cách: khi thì dùng từ láy:
          VD:   NỗI niềm chi rứa Huế ơi
                   Mà mưa xối xả trắng trờI Thừa Thiên
                                                (Mẹ Tơm - Tố Hữu)
          VD:   Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
                   Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
                                                (Đồng Chí – Chính Hữu)
-        Thứ tư: Ngôn từ Văn học là loại ngôn từ đã được chắt lọc từ ngôn ngữ đời  thường, được nâng cấp, sửa sang, làm cho nó càng óng ả, giàu đẹp hơn. Các biện pháp tu từ chính là những phương tiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ trang điểm cho ngôn từ văn học. Có rất nhiều biện pháp tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, so sánh, điệp ngữ, … Tất cả những biện pháp đó nhằm mục đích giúp người nói, người viết có những cách diễn đạt hay hơn, đẹp hơn, phong phú hơn, và do vậy mà hiệu quả cao hơn. Phân tích các biện pháp tu từ giáo viên cần chỉ ra tính hiệu quả của cách viết, cách nói ấy, vai trò và tác dụng của chúng trong việc miêu tả, biểu đạt chứ không phải đơn thuần chỉ gọi tên liệt kê các biện pháp mà nhà văn đã dung.
4.       Không gian và thời gian trong thơ trữ tình:
Không gian trong thơ trữ tình là nơi tác giả - cái tôi trữ tình hoặc nhân vật trữ tình xuất hiện để thổ lộ tấm long cũa mình. Không gian thường gắn với địa điểm chỉ nơi chốn như: cây đa, bến đò,mái đình, giếng nước, núi cao, biển sâu, trời rộng , song dài… Nhiều địa danh riêng đã trở thành những không gian tượng trưng văn học như: Tiêu tương, Tầm Dương, Cô Tô, Xích Bích, Tây Thiên, Địa Ngục, Thiên Đường, Bồng Lai, Tiên Cảnh, Cõi Phật, SuốI vàng….
Khi đọc tác phẩm Văn Học, chúng ta cnầ chú ý xem nhà văn mô tả không gian ở đây có gì đặc biệt, không gian ấy có ý nghĩa gì và nói được nội dung gì sâu sắc qua không gian đó.
2. Làm thế nào để viết một bài văn (văn cảm thụ) hay?
Trước hết, cảm thụ văn học chính là đi tìm vẻ đẹp, cái hay của những bài thơ, bài văn.. Để giúp các em biết cách cảm thụ một đoạn thơ, đoạn văn và viết được đoạn văn cảm thụ vừa đúng vừa hay, các em làm theo các gợi ý dưới đây:
 + Bước 1: Đọc kĩ đoạn văn, đoạn thơ cần tìm hiểu
 + Bước 2: Nội dung đoạn văn, đoạn thơ nói lên điều gì?
 + Bước 3: Tìm hiểu về nghệ thuật có trong bài ( cách dùng từ, đặt câu, biện pháp tu từ: so sánh, nhân hoá, điệp từ, điệp ngữ,...)
 + Bước 4: Những suy nghĩ, cảm xúc của em và rút ra bài học (nếu có) khi đọc đoạn văn, đoạn thơ đó.
 + Bước 5: Sắp xếp các nội dung trên thành một đoạn văn ngắn, có câu mở đầu, câu kết đoạn.
                           II. THỰC HÀNH CÁC DẠNG ĐỀ
Câu 1 : (14.0 điểm)
                                      Hơi ấm ổ rơm
                                                          Nguyễn Duy
 
                             Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm
                             Bà mẹ đón tôi trong gió đêm;
                             - Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ
                             Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ
                             Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm.
         
                             Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
                             Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
                             Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm
                             Của những cọng rơm xơ xác gầy gò.
 
                             Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no
                             Riêng cái ấm nồng nàn như lửa
                             Cái mộc mạc lên hương của lúa
                             Đâu dễ chia cho tất cả mọi người.
          Hơi ấm ổ rơm  thuộc vào những bài thơ nhỏ, giản dị mà hàm ý sâu xa. Bài thơ đã ghi được những xúc cảm, những suy nghĩ của nhân vật “tôi” đi công tác trong đêm ghé vào ngủ nhờ nhà một người mẹ nghèo ven đồng chiêm.
            Cảm nhận của em về bài thơ trên.
Gợi ý : (14,0 đ)
          1. Đề bài yêu cầu học sinh nêu cảm nhận của mình về một bài thơ mà các em chỉ được đọc và tìm hiểu trong chương trình trong sách Tư liệu văn học 7. Tác giả bài thơ, các em đã được biết đến khi học bài thơ Tre Việt Nam (không xa lạ).
          2. Đây là một đề bài yêu cầu học sinh phải viết một bài văn hoàn chỉnh nên nhất thiết phải có kiến thức văn học và có kỹ năng làm một bài văn nghị luận.
3.   Về kiến thức :
          + Có kiến thức về tác giả Nguyễn Duy - Một trong những tên tuổi xuất hiện trong thơ ca thời chống Mỹ cứu nước.
          + Có kiến thức để hiểu nội dung bài thơ : Những xúc cảm của nhân vật “tôi” trong cái “thao thức” khi nằm trong ổ rơm, những suy nghĩ của nhân vật “tôi” về tấm lòng yêu thương thơm thảo, ấm áp, ngọt ngào của người mẹ nghèo, của quê hương nghèo, đã nuôi dưỡng sự sống và tâm hồn con người mà không phải ai cũng thấy hết được.
          4. Về kỹ năng :
           Có kỹ năng để phân tích những chi tiết, những hình ảnh, những từ ngữ  có giá trị biểu cảm trong bài thơ : Những chi tiết có tính tự sự giống như văn xuôi : “tôi gõ cửa”, “bà mẹ đón tôi”, “mẹ chỉ phàn nàn”, “rồi mẹ ôm rơm lót ổ”,...; những hình ảnh gợi cảm : “rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm” “cọng rơm xơ xác gầy gò”; những từ ngữ biểu cảm: “bọc”, “thao thức”, “nồng nàn”, “mộc mạc” ; biết diễn đạt những rung cảm của mình thành những câu văn, đoạn văn giàu hình ảnh, giàu cảm xúc.
            5. Bài viết cần có kết cấu rõ ràng. Có những nét riêng, sáng tạo trong cách cảm, cách hiểu. Có được những đoạn bình hay. Văn gọn, súc tích , giàu hình ảnh, giàu cảm xúc. Hạn chế lỗi diễn đạt.
Tiêu chuẩn cho điểm:
Điểm 13-14: Bài viết đạt được những yêu cầu trên
Điểm 10-12 : Bài viết đạt tương đối đầy đủ các yêu cầu trên song không có được những sáng tạo riêng. Mắc không quá 8 lỗi diễn đạt.
Điểm 6-9 : Bài viết ở mức trung bình.
Điểm 2-5 : Bài viết còn ở dạng nêu cảm nghĩ chung chung. Bố cục không rõ ràng. Văn viết không rõ ý. Mắc lỗi diễn đạt nhiều.
Điểm 0-1 : Sai nghiêm trọng nội dung, phương pháp hoặc bỏ giấy trắng hoặc chỉ viết vài dòng chiếu lệ .
Câu 2 ( 2điểm):  Trình bày cảm nhận của em về khổ thơ sau:
" Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?..."
( Trích " Chinh phụ ngâm khúc" - Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm )
Gợi ý( 2đ):
           1. Yêu cầu
Học sinh có thể trình bày theo những cách cảm nhận khác nhau, nhưng bài làm cần đạt được các ý cơ bản sau:
          * Về kỹ năng:- Có bố cục rõ ràng, tổ chức thành văn bản khá hoàn chỉnh.
                                -Diễn đạt rõ ràng, trong sáng, văn viết có cảm xúc.
                                - Không có lỗi về chính tả, dùng từ, đặt câu.
          * Về kiến thức:
          - Ba câu đầu, tác giả sử dụng nghệ thuật điệp ngữ: cùng, thấy, ngàn dâu... tạo nên âm điệu nhịp nhàng, gợi ra sự triền miên vô tận như  một dòng chảy không có điểm dừng. Từ láy toàn bộ " xanh xanh"gợi ra màu xanh mờ mờ, nhạt nhoà. Tất cả làm nên một bức tranh cảnh vật với không gian rộng lớn trải dài một màu xanh man mác. Người đọc như thấy hiển hiện sự nhỏ nhoi, lac lõng, cô đơn; sự bất hạnh vô vọng tới tột cùng của nhân vật trữ tình .
          - Với câu hỏi tu từ, câu thơ cuối như một tiếng thở dài ngao ngán. Nỗi buồn tủi, bất hạnh; nỗi sầu thảm đã dồn nén kết thành khối. Đó là nỗi buồn thương, bất hạnh của tuổi xuân không được hưởng hạnh phúc, nỗi xót xa cho hanh phúc dang dở...
          -Với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình cổ điển đặc sắc, bốn câu thơ đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về tâm trạng sầu thương, buồn nhớ và oán hận chiến tranh của người vợ trẻ có chồng đi chinh chiến. Đồng thời đó cũng là tiếng nói cất lên từ trái tim tan vỡ vì đau khổ; bày tỏ khát vọng được sống trong hoà bình, tình yêu và hạnh phúc...
2. Thang điểm:
- Điểm 2: Bài làm cơ bản đạt đ­ược những yêu cầu trên.
- Điểm 1: Bài làm đạt được những yêu cầu về kiến thức, về kỹ năng có thể còn mắc một vài sai sót.
Câu 3(4 điểm):     Đọc bài thơ sau:                    
                              MẸ VÀ QUẢ
                          Những mùa quả mẹ tôi hái được
                          Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
                         Những mùa quả lặn rồi lại mọc
                         Như mặt trời, khi như mặt trăng.
                                              Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
               Còn những bí và bầu thì lớn xuống
               Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
               Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.
                                              Và chúng tôi một thứ quả trên đời
    Bảy mươi tuổi mẹ mong chờ được hái
    Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
    Mình vẫn còn một thứ quả xanh non.
(Nguyễn Khoa Điềm)
          a) Em hãy xác định các biện pháp tu từ nổi bật trong bài thơ.
b) Phân tích hiệu quả biểu đạt của các biện pháp tu từ trong việc thể hiện cảm xúc về tình mẫu tử ở khổ cuối của bài thơ.
Gợi ý(4 điểm):
            a) Biện pháp tu từ nổi bật trong bài thơ:                                                             (1 điểm)
          - Ẩn dụ, so sánh: quả - những đứa con (hình ảnh xuyên suốt toàn bài thơ)
          - Liên tưởng, so sánh: lặn – mọc: vòng quay của thời gian; bí, bầu lớn xuống, mang dáng giọt mồ hôi mặn…
Đó là những phép so sánh, liên tưởng độc đáo, tạo ấn tượng mạnh mẽ và tình cảm sâu nặng của đứa con với công lao suốt đời của người mẹ.
b) Hiệu quả biểu đạt của các biện pháp tu từ trong khổ thơ cuối:                        (3 điểm)
“Quả”, hình ảnh so sánh ẩn dụ rất độc đáo đọng lại trong khổ thơ cuối như 1 lời nhắc nhở:
+ Cả cuộc đời mẹ đã thầm lặng chăm chút, nuôi dưỡng, chấp nhận hi sinh để con khôn lớn, trưởng thành.
+ Khổ thơ hàm chứa sự biết ơn sâu nặng của đứa con đối với mẹ.
+ Sự thảng thốt của đứa con: một đời mẹ hi sinh thầm lặng, và mong mỏi con cái khôn lớn, trưởng thành, nhưng từ sâu thẳm tâm hồn người con, vẫn thấy mình bé nhỏ, vẫn thấy mình chưa đền đáp xứng đáng công lao dưỡng dục của  người mẹ.
Câu 4: (2,0điểm)
                             Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu
                             Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy
                             Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy
                             Bầy chim non bơi lội trên sông
                             Tôi giơ tay ôm nước vào lòng
                             Sông mở nước ôm tôi vào dạ .
                                                  Tế Hanh (Nhớ con sông quê hương )
          Nhận xét của em về nghệ thuật sử dụng từ ngữ , hình ảnh và các biện pháp tu từ trong đoạn thơ trên .
Gợi ý: (2,0điểm)
Yêu cầu của đề cần nêu nhận xét về nghệ thuật sử dụng từ ngừ , hình ảnh và các biện pháp tu từ  trong đoạn thơ .
          - Từ tượng hình , tượng thanh : ríu rít , chập chờn ,...(0,5đ)
          - Hình ảnh : tụm năm , tụm bảy ; bầy chim non ,...     (0,5đ)
          - Nghệ thuật ẩn dụ , nhân hóa                                     (0,5đ)
          Nhà thơ như cảm nhận được một sự giao hòa thầm kín giữa mình và con sông ,  tạo thành một kỷ niệm sâu sắc .                          (0,5đ)
Câu 5 : ( 2,0 điểm )
 
                   ... Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
                   Cả thân hình nồng thở vị xa xăm ;
                   Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
                   Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ .
                                                (Quê hương - Tế Hanh)
          Hình ảnh người dân chài và chiếc thuyền được nhà thơ Tế Hanh khắc hoạ trong khổ thơ trên có gì đặc sắc?
Gợi ý 1 : ( 2,0 điểm )
          Yêu cầu cần đạt :
          - Hình ảnh người dân chài được khắc hoạ như một bức tượng đài có hình khối , màu sắc và hương vị đặc trưng đã làm toát lên một phong thái , một thần sắc đặc biệt : màu da “ rám nắng “ là tín hiệu của đời sống lao động , sự từng trải ,... ; hương vị “ xa xăm “ mang một ý vị tượng trưng , gợi cảm ...
          - Hình ảnh con thuyền được miêu tả như con người có linh hồn , có thần thái và khí chất riêng . Thông qua biện pháp nhân hoá : “ im , mỏi , trở về nằm , nghe ,...”  con thuyền đã có được sự cảm nhận hết sức tinh tế .
          Ngoài ra cần thấy được nét đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả của nhà thơ đó là:  khắc hoạ được những hình ảnh quen mà lạ , thực mà hư ;  sự nhất quán trong cảm nhận mang tính chất tượng trưng : con thuyền đồng nhất với số phận , với cuộc đời của người dân chài .
3.2.3. DẠNG BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
1. Phương pháp, cách làm: Các dạng bài nghị luận xã hội đều vận dụng chung các thao tác lập luận là giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận. Ba thao tác cơ bản nhất là giải thích, chứng minh, bình luận.
Bước 1: Giải thích
* Mục đích: Hiểu
* Các bước:
- Làm rõ vấn đề được dẫn trên đề. Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng là một câu trích dẫn khá nổi tiếng nào đó hoặc một ý tưởng do người ra đề đề xuất, người viết cần lần lượt giải nghĩa, làm rõ nghĩa của vấn đề theo cách đi từ khái niệm đến các vế câu và cuối cùng là toàn bộ ý tưởng được trích dẫn. Khi vấn đề được diễn đạt theo kiểu ẩn dụ bóng bẩy thì phải giải thích cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ ngữ. Nếu vấn đề là một hiện tượng đời sống, người viết cần cho biết đó là hiện tượng gì, hiện tượng đó biểu hiện ra sao, dưới các hình thức nào (miêu tả, nhận diện)...
Làm tốt bước giải nghĩa này sẽ hiểu đúng vấn đề, xác định đúng vấn đề (hoặc mức độ) cần giải thích để chọn lí lẽ cần thiết.
Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi LÀ GÌ?
-Tìm hiểu cơ sở của vấn đề: Trả lời tại sao có vấn đề đó (xuất phát từ đâu có vấn đề đó). Cùng với phần giải nghĩa, phần này là phần thể hiện rất rõ đặc thù của thao tác giải thích. Người viết cần suy nghĩ kĩ để có cách viết chặt chẽ về mặt lập luận, lô gíc về mặt lí lẽ, xác đáng về mặt dẫn chứng.
Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi TẠI SAO.
-Nêu hướng vận dụng của vấn đề: Vấn đề được vận dụng vào thực tiễn cuộc sống như thế nào. Hiểu nôm na, phần này yêu cầu người viết thể hiện quan điểm của mình về việc tiếp thu, vận dụng vấn đề vào cuộc sống của mình như thế nào.
Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi NHƯ THẾ NÀO.
* Lưu ý:
-Nên đặt trực tiếp từng câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào đầu mỗi phần (mỗi bước) của bài văn. Mục đích đặt câu hỏi: để tìm ý (phần trả lời chính là ý, là luận điểm được tìm ra) và cũng để tạo sự chú ý cần thiết đối với người đọc bài văn. Cũng có thể không cần đặt trực tiếp ba câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào bài làm nhưng điều quan trọng là khi viết, người làm bài cần phải có ý thức mình đang lần lượt trả lời từng ý, từng luận điểm được đặt ra từ ba câu hỏi đó. -Tuỳ theo thực tế của đề và thực tế bài làm, bước NHƯ THẾ NÀO có khi không nhất thiết phải tách hẳn riêng thành một phần bắt buộc.
Bước 2: Chứng minh
* Mục đích: Tin
* Các bước:
-Xác định chính xác điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.
-Dùng dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để minh hoạ nhằm làm sáng tỏ điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.
Bước 3: Bình luận
* Mục đích: Đồng tình
* Các bước:
- Nêu, giải thích rõ vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.
- Dùng lí lẽ và dẫn chứng (chủ yếu là lí lẽ) để khẳng định giá trị của vấn đề hoặc hiện tượng (giá trị đúng hoặc giá trị sai). Làm tốt phần này chính là đã bước đầu đánh giá được vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.
- Bàn rộng và nhìn vấn đề (hiện tượng) cần bình luận dưới nhiều góc độ (thậm chí từ góc độ ngược lại) để có cái nhìn đầy đủ hơn.
- Khẳng định tác dụng, ý nghĩa của vấn đề trong cuộc sống hiện tại.
2. Thực hành các dạng đề nghị luận xã hội.
Câu 1 (3 điểm):Suy nghĩ của em về nội dung mẩu chuyện sau:
      Gia đình nọ rất quý mến ông lão mù nghèo khổ và rách rưới-  người hàng tuần vẫn mang rau đến bán cho họ. Một hôm, ông lão khoe: Không biết ai đã để trước cửa nhà của tôi một thùng quần áo cũ. Gia đình biết ông lão cũng thiếu thốn nên rất vui: Chúc mừng ông! Thật là tuyệt!. Ông lão mù nói: Tuyệt thật! Nhưng tuyệt nhất là vừa đúng lúc tôi biết có một gia đình thực sự cần những quần áo đó.
Gợi ý: (3 điểm): kiến thức: Học sinh có thể viết theo suy nghĩ độc lập của mình nhưng trên cơ sở một vài ý cơ bản sau:
- Đây là câu chuyện cảm động về tình yêu thương, sự quan tâm chia sẻ đối với những người bất hạnh, nghèo khổ. Câu chuyện thể hiện tình thương của gia đình nọ với ông lão mù, nghèo khổ và đặc biệt là tình thương của ông lão với những người khác bất hạnh hơn mình. Đối với ông lão những bộ quần áo cũ là món quà mà ai đó đã trao tặng cho mình nhưng món quà ấy còn quý giá hơn khi mà ông trao nó cho người khác- những người thực sự cần nó hơn ông. Trong con người bất hạnh nghèo khổ ấy là một tấm lòng nhân ái, sau đôi mắt mù lòa ấy là một tâm hồn trong sáng, cao đẹp. Đối với ông lão được giúp đỡ người khác như một bất ngờ thú vị của cuộc sống, là niềm vui, niềm hạnh phúc tràn ngập tâm hồn.
- Bài học sâu sắc về tình thương:
+ Ngay cả khi phải sống cuộc sống nghèo khổ hay chịu sự bất hạnh thì con người vẫn cần biết quan tâm đến người khác, nhất là những người nghèo khổ, bất hạnh hơn mình và tình yêu thương giữa con người với con người là không phân biệt giàu nghèo, giai cấp…
+ Được yêu thương, giúp đỡ người khác chính là niềm vui, nguồn hạnh phúc, ý nghĩa của sự sống và là cách nâng tâm hồn mình lên cao đẹp hơn.
+ Đừng bao giờ thờ ơ, vô cảm trước nỗi khổ đau, bất hạnh của người khác, đừng vì nghèo khổ hay bất hạnh mà trở nên hẹp hòi ích kỷ, sống trái với đạo lý con người: Thương người như thể thương thân.
- Xác định thái độ của bản thân: Đồng tình với thái độ sống có tình thương và trách nhiệm với mọi người, khích lệ những người biết mở rộng tâm hồn để yêu thương, giúp đỡ người khác. Phê phán thái độ sống cá nhân vị kỷ, tầm thường.
Câu 2 (3 điểm).
          Trong buổi giao lưu, trò chuyện với các thủ khoa tốt nghiệp xuất sắc của các trường đại học, học viện tại Hà Nội, Giáo sư Ngô Bảo Châu đã chia sẻ: “Tôi tin rằng, trong mỗi thất bại luôn có mầm mống của sự thành công”.
          Trình bày suy nghĩ của em về quan niệm trên.
Gợi ý:
  Về kĩ năng: - Học sinh phải xác định được đây là một bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí
-  Bố cục rõ ràng, kết hợp nhiều thao tác như giải thích, chứng minh, bình luận
-  Văn viết trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục, hạn chế lỗi chính tả
  Về kiến thức: Học sinh phải đạt được những yêu cầu sau:
1.     Giới thiệu vấn đề:                                                                           0,5 điểm
   a/ Giải thích được vấn đề cần bàn luận.                                         1,0 điểm
  +  Con người trước mỗi thất bại không nên thất vọng mà phải nhận ra được bài học để rồi đi đến thành công .
  +   Thất bại nghĩa là không đạt được kết quả , mục đích như dự địn
 +   Mầm mống nghĩa ở đây là nguyên nhân , là bài học bổ ích mà ta nhận ra được từ sự thất bại đó.
  +   Thành công là đạt được kết quả, mục đích như dự định
  b/ Khẳng định vấn đề trên là đúng:                                                2,5 điểm
  + Trong cuộc sống, con người phải có niềm tin và nó chính là nền tảng để đi đến thành công.
  + Thiếu niềm tin và nghị lực thì cuộc sống sẽ mất hết ý nghĩa.
  +  Con đường đi đến thành công không phải lúc nào cũng bằng phẳng, xuôi dòng                     
  + Thất bại là điều khó tránh khỏi vì nhiều trở ngại do chủ quan, khách quan. Dẫn chứng trong lịch sử đấu tranh, trong thời kì xây dựng, thời kì đổi mới.
  + Điều quan trọng là phải biết chấp nhận thất bại bằng cách rút kinh nghiệm và xem đó là cơ hội để ta giàu thêm ý chí, nghị lực để vươn lên ( Ai chiến thắng mà không hề chiến bại. Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần)
                    +    Gục ngã ,buông xuôi trước một thất bại là kẻ yếu mềm, thiếu ý chí  không chiến thắng được bản thân thì không thể thành công trong công việc.
( Không có viêc gì khó…ắt làm nên.  -   Đường đi khó , không khó vì ngăn sông cách núi….e sông)
c/  Mở rộng, bàn bạc :                                                                      1,0 điểm
                     +     Con người cần có những thành công cho mình và cho cộng đồng
                     +     Xem sự thất bại là mẹ đẻ của thành công
                     +     Phê phán những người thiếu niềm tin, thiếu động lực vươn lên sau mỗi lần thất bại.
d/  Khẳng định vấn đề và rút ra bài học:                                       1,0 điểm
Câu 3:  Suy nghĩ của anh chị về bệnh “ vô cảm” trong đời sống hiện nay                                                                                           
Gợi ý:
I/ Mở bài:
Trong thời đại mở cửa hội nhập, đất nước đang có nhiều thay đổi lớn lao. Nhưng trong những thay đổi đó đã nảy sinh lối sống không lành mạnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức xã hội. Đó là bệnh vô cảm.
II. Thân bài:
a. Giải thích: Bệnh vô cảm là gì?
Bệnh vô cảm là sự thờ ơ, dửng dư­ng, không quan tâm  đến xung quanh, chỉ biết đến bản thân, thỏa mãn lòng ích kỉ. Vô cảm là căn bệnh có ảnh hư­ởng sâu sắc đến đời sống hôm nay.
b.Phân tích, bình luận: Nguyên nhân do đâu? Biêu hiện ntn? Tác haị ra sao? Phải làm gì?
*  Nguyên nhân do:
+ Xu thế xã hội chuyển sang nhịp sống công nghiệp rất gấp gáp, vội vàng, mọi ngừơi ít có thời gian quan tâm đến nhau.
+ Phân công xã hội đi vào chuyên môn hoá cao nên hiểu biết mỗi người sâu nhưng hẹp, chỉ lo chuyên môn sâu của mình, ít cơ hội hợp tác.
+ Thời buổi mở cửa, lối sống gấp gáp, nghiêng về thụ hưởng du nhập ồ ạt, lấn át đạo đức truyền thống.
+ Nhiều người chạy theo đồng tiền, khoảng cách giàu nghèo ngày một tăng.
+Lòng ích kỉ nhỏ nhen, lòng tham của con ngư­êi chØ lo vun vén cho quyền lợi của mình, cho gia đình mình và bằng mọi giá bảo vệ lợi ích của bản thân
*Biêu hiện như thế nào?
Bênh vô cảm có nhiều biểu hiện phức tạp.
-Khi đời sống vật chất, tinh thần hiện nay có nhiều cải thiện, khoảng cách giàu nghèo càng cách xa thì thái độ sống thờ ơ lạnh nhạt với ng­ười khác là điều khó tránh khỏi. .  Họ vô tình quên đi những nét đẹp trong nhân cách đạo đức của con người.(Ví dụ: như­ờng ghế trên tàu xe; cho người ăn mày; giúp người họan nạn trên đ­ường…)
-Những ng­ười thị thành hay giàu có th­ường ít quan tâm đến hàng xóm, ít chú ý đến ngư­ời khác cho dù họ đang trong tình cảnh khó khăn cùng quẫn. Có ng­ười còn tỏ vẻ khinh thư­ờng, hoặc không mảy may xúc động tr­ước bất hạnh của đồng loại, bỏ mặc bọn cướp hoành hành, thờ ơ với biểu hiện trấn lột, tai nạn giao thông…
-Đâu đâu ta cũng thấy những biểu hiện thói vô cảm.
*Tác haị ra sao?
+ Bệnh vô cảm tác động rất nhiều đến đời sống hiện nay.
- Trong xã hội: Đạo lí truyền thống “th­ương ng­ời như­ thể thương thân” và sự đồng cảm chia sẻ có nguy cơ bị căn bệnh vô cảm phá vỡ.
-Bệnh vô cảm có tác hại ghê gớm, làm cho đạo đức con người bị mai một, tình ng­ười không còn trong sáng và thiêng liêng cao quý. Nó làm cho con người thờ ơ, đôi khi dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
- Trong nhà trư­ờng, nếu vô cảm có thể mất bạn bè, thầy bỏ rơi học trò, có khi đẩy học trò vào bất hạnh nếu không chú ý lắng nghe, thấu hiểu. Lòng tin và những điều tốt đẹp sẽ đến với ngư­ời dân khi chính quyền hiểu dân, chia sẻ với dân trong gian khổ.
+ Bệnh vô cảm giết chết tình ngư­êi vµ biến con người thành tàn độc, thành bất nhân, bất nghĩa. Ngư­ời vô cảm cần phải lên án.
* Phải làm gì?
- Mỗi người cần tự tin và luôn biết lắng nghe và thấu hiểu để sẵn sàng chia sẻ với người khác những gì có thể được.
- Sống cần tình thư­ơng và  đồng cảm, sống gắn bó và chan hòa với mọi ngư­ời.
- Sống cần vị tha và lạc quan giữa cộng đồng nhân ái.
- Tăng thêm các chương trình từ thiện, biểu dương người tốt…
  III. Kết bài:
Vô cảm là một thói xấu, đang trở thành căn bệnh xã hội, tác hại không thể lường trước. Phê phán, hạn chế bệnh vô cảm là trách nhiệm của mỗi chúng ta, của toàn xã hội. Là nhiệm vụ phải làm ngay, làm càng sớm càng tốt
Câu 4. Viết một bài văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của em về sự chia sẻ trong tình bạn.
Gợi ý:
*Trong đời sống tinh thần của con người,có rất nhiều tình cảm thiêng liêng như tình cha con,tình thầy trò,bè bạn...Nhu cầu về tình bạn là nhu cầu cần thiết và quan trọng,vì vậy mà trong ca dao dân ca có nhiều câu,nhiều bài rất cảm động về vấn đề này : Bạn về có nhớ ta chăng, Ta về nhớ bạn như trăng nhớ trời hoặc : Trăng lên khỏi núi mặc trăng Tình ta với bạn khăng khăng một niềm .
               - Có những tình bạn lưu danh muôn thuở trong văn chương như Lưu Bình với Dương Lễ, Bá Nha với Chung Tử Kì,như Nguyễn Khuyến với Dương Khuê...Trong cuộc sống xung quanh ta cũng có rất nhiều tình bạn đẹp.
*Vậy thế nào là một tình bạn đẹp ?
-Trước hết đó phải là một tình cảm chân thành trong sáng,vô tư và đầy tin tưởng mà những người bạn thân thiết dành cho nhau.Tình bạn bước đầu thường được xây dựng trên cơ sở cảm tính nhiều hơn lí tính.Trong số đông bạn bè chung trường,chung lớp,ta chỉ có thể chọn và kết thân với một vài người. Đó là những người mà ta có thiện cảm thực sự, hiểu ta và có chung sở thích với ta, mặc dù là cùng hoặc không cùng cảnh ngộ.
 - Tình bạn trong sáng không chấp nhận những toan tính nhỏ nhen,vụ lợi và sự đố kị hơn thua.Hiểu biết,thông cảm và sẵn sàng chia sẻ vui buồn sướng khổ với nhau,đó mới thực sự là bạn tốt.Còn những kẻ : “Khi vui thì vỗ tay vào. Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai” thì không xứng đáng được coi là bạn.
 - Đã là bạn thân thì thường dễ dàng xuê xoa,bỏ qua những thói hư tật xấu của nhau.Đó là một sai lầm nên tránh.Nể nang,bao che...chỉ làm cho bạn dấn sâu hơn vào con đường tiêu cực.
Câu 5:                           LỖI LẦM VÀ SỰ BIẾT ƠN
Hai người bạn cùng đi qua sa mạc. Trong chuyến đi, giữa hai người có xảy ra một cuộc tranh luận, và một người nổi nóng không kiềm chế được mình đã nặng lời miệt thị người kia. Cảm thấy bị xúc phạm, anh không nói gì, chỉ viết lên cát: “ Hôm nay người bạn tốt nhất của tôi đã làm khác đi những gì tôi nghĩ”.
Họ đi tiếp, tìm thấy một ốc đảo, và quyết định đi bơi. Người bị miệt thị lúc nãy bây giờ bị đuối sức và chìm dần xuống. Người bạn kia đã tìm cách cứu anh. Khi đã lên bờ, anh lấy một miếng kim loại khắc lên đá: “ Hôm nay người bạn tốt nhất của tôi đã cứu sống tôi”.
Người kia hỏi: “ Tại sao khi tôi xúc phạm anh, anh viết lên cát, còn bây giờ anh lại khắc lên đá” ?
Anh ta trả lời : “Những điều viết lên cát sẽ mau chóng xoá nhoà theo thời gian, nhưng không ai có thể xoá được được những điều tốt đẹp đã được ghi tạc trên đá, trong lòng người ”.
Vậy mỗi chúng ta hãy học cách viết những nỗi đau buồn, thù hận lên cát và khắc ghi những ân nghĩa lên đá.
                             (Dẫn theo Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr 160).
        Từ câu chuyện trên, em hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 300 từ) bàn về sự tha thứ và lòng biết ơn của con người trong cuộc sống.
Gợi ý:
   1. Giới thiệu vấn đề cần nghị luận.                                                                              
   2. Khái quát chung và nắm bắt được ý nghĩa mà câu chuyện muốn đề cập.               
   3.Trình bày suy nghĩ của bản thân về sự tha thứlòng biết ơn của con người trong cuộc sống mà được gợi lên từ câu chuyện :                                                                                      
  - Giải thích về vấn đề cần bàn luận :                                                                               
   + Thế nào là sự tha thứlòng biết ơn : tha thứ là việc bỏ qua, không trách cứ, chấp nhặt, hay trừng phạt những sai trái, lỗi lầm của người khác ;lòng biết ơn là sự thể hiện việc hiểu và nhớ công ơn của người khác đối với mình.                                                                                      
         + Vì sao trong cuộc sống con người cần có sự tha thứlòng biết ơn ?: trong cuộc sống ai cũng có lúc gây ra những lỗi lầm, sai trái vì vậy cần phải nhận được sự tha thứ, bao dung của mọi người.   Bởi chính sự tha thứ giúp cho người mắc lỗi có cơ hội được sửa chữa; giúp cho bản thân tìm thấy được sự thanh thản và làm cho cuộc sống bớt đi sự căng thẳng, xung đột và thêm đi sự hoà hợp, yêu thương, có nghĩa là phải biết viết những nỗi đau buồn, thù hận lên cát …; phải biết khắc ghi những ân nghĩa vào lòng, phải biết ơn những người đã đem đến cho mình những điều tốt đẹp, và biết khắc ghi những ân nghĩa lên đá, như cách ứng xử giữa những con người trong câu chuyện trên.                                                                                                                                           
       - Suy nghĩ của bản thân :                                                                                                                                                                                              
+ Sự tha thứ và lòng biết ơn là một trong phẩm chất cần thiết, cao đẹp để hình thành nên một con người chân chính, bởi bên cạnh việc thu nhận kiến thức thì việc tu dưỡng, rèn luyện cho bản thân những đức tính về sự tha thứlòng biết ơn có một ý nghĩa rất lớn trên con đường hoàn thiện nhân cách của mỗi con người
+ Sự tha thứ và lòng biết ơn không chỉ được thể hiện ở một cá nhân hay một bộ phận mà những đức tính đó cần phải được gắn kết và tạo thành những phẩm chất, đạo lí trong cuộc sống. Bởi đó chính là những nét đẹp truyền thống của con người Việt Nam.                                                                       
   4. Bài học nhận thức và hành động :                                                                                     
      - Cần phải biết sống có tấm lòng bao dung, vị tha; biết ghi ơn những con người đã mang lại cho mình những điều tốt đẹp.
      - Cần phải được thể hiện sự tha thứ và lòng biết ơn của mình trên cả nhận thức và hành động cụ thể.
Câu 6:   Suy nghĩ của em về ý nghĩa của câu chuyện sau :
HOA HỒNG TẶNG MẸ
 Anh dừng lại ở tiệm bán hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện. Mẹ anh sống cách chỗ anh khoảng 300 km. Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. Anh đến và hỏi cô bé sao lại khóc.
   - Cháu muốn mua một bông hồng để tặng mẹ cháu. - Cô bé nức nở. - Nhưng cháu chỉ có 75 xu, trong khi giá một bông hồng những 2 đô la.
   Anh mỉm cười và nói :
   - Đến đây, chú sẽ mua cho cháu.
   Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Cô bé vui mừng nhìn anh và trả lời :
   - Dạ, chú cho cháu đi nhờ xe đến nhà mẹ cháu.
     Rồi cô bé chỉ đường cho anh đến một nghĩa trang, nơi có một ngôi mộ vừa mới đắp. Cô bé chỉ ngôi mộ và nói. :
   - Đây là nhà của mẹ cháu.
   Nói xong, cô bé ân cần đặt bông hoa hồng lên mộ.
       Tức thì, anh quay lại tiệm bán hoa, huỷ bỏ dịch vụ gửi hoa vừa rồi và mua một bó hồng thật đẹp. Suốt đêm hôm đó, anh đã lái xe một mạch 300 km về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa.
                                                           ( theo Quà tặng cuộc sống, NXB Trẻ, 2004)
Gợi ý
         a) Trên cơ sở đọc hiểu văn bản, học sinh chọn được vấn đề trọng tâm, đó là: bài học về tình mẫu tử, để bộc lộ suy nghĩ của bản thân.
         b) Từ vấn đề trọng tâm đó  học sinh phải biết liên hệ thực tế,  liên hệ bản thân.
Thật là hay,và thật là cảm động,chính tình yêu mẹ của cô bé đã khiến chàng trai đó phải suy nghĩ lại việc làm của mình.Không có hạnh phúc nào và niềm vui nào khi được ở bên người thân của mình.Và niềm hạnh phúc lớn nhất của mẹ là được có đứa con yêu thương bên cạnh chư không phải là thư vat chất tầm thường mà ngưởi con gởi về cho mẹ.
Vì cuộc sống bận rộn ,đầy những lo toan nên ta không còn thời gian để nhớ đến những gì xung quanh hay chỉ là quan tâm một cách hờ hững,không mấy chú ý đến người tiếp nhận sự quan tâm đó có chấp nhận nó hay không.Nhưng chỉ một hành động dù nhỏ bé cũng đủ để ta như bừng tỉnh lại .Chỉ là một câu hỏi thăm bình thường vào mỗi ngày cũng đủ làm người khác ấm lòng.Như thế bạn hãy quan tâm hơn đến xung quanh bạn hay là tự quan tâm chính mình lúc đó cuộc sẽ đẹp hơn rất nhiều.
Một tấm lòng hiếu thảo của một bé gái đã làm cho một anh chàng cảm động.Anh nhận ra rằng tình cảm mẫu tử là nhất trên đời.
Câu chuyện cũng mang 1 ý nghĩa thật cao cả, chúng ta hãy biết trân trọng giữ gìn những gì mình đang có đừng để đến khi quá muộn chúng ta sẽ phải hối hận.Hãy yêu thương, dành thời gian bên mẹ! Mẹ luôn là ánh sáng soi tỏ con đường tương lai của con! Và hãy nói rằng: Mẹ ơi, con yêu mẹ nhất.
3.2.4. DẠY PHẦN TRUYỆN TRUNG ĐẠI LỚP 9
I. DẠY PHẦN KIẾN THỨC
1. Hiểu thêm về “Chuyện người con gái Nam Xương”
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta ở thế kỷ XVI, một tập truyện văn xuôi bằng chữ Hán đầu tiên ở Việt Nam. Truyện “ Chuyện người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm đó được trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
          Truyện kể về một người phụ nữ tên là Vũ Thị Thiết ở huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nam. Vốn là một người vợ đoan chính, đảm đang. Nàng giữ lòng chung thuỷ, hầu hạ mẹ chồng, chăm sóc con thơ trong suốt thời gian chồng đi lính ở phương xa. Khi trở về vì nghe lời ngây thơ của con trẻ, người chồng nghi ngờ nàng thất tiết nên đánh mắng đuổi đi. Không thể phân giải được oan tình, nàng trẫm mình ở sông Hoàng Giang. Cảm động vì lòng trung thực của nàng, Linh Phi (vợ vua biển) cứu vớt nàng và cho ở lại Long Cung. Người chồng biết vợ bị oan nên rất hối hận, lập đàn giải oan cho nàng. Vũ Nương hiện lên, ẩn hiện trong chốc lát rồi trở lại Long Cung.
Chuyện ca ngợi một người phụ nữ có phẩm chất, có tâm hồn trong sáng, sáng ngời như ngọc lại bị nỗi oan tày trời vì một chuyện vờ ghen vớ vẩn của người chồng nông nổi. Cuối cùng nàng phải tìm đến cái chết để giải nỗi oan tình.
          Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau, qua đó bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ. Vũ Nương vốn là người con gái có tư dung tốt đẹp, tính tình thuỳ mị, nết na. Khi lấy chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng phải thất hoà dù Trương Sinh vốn có tính hay ghen. Khi chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượi đầy tiễn chồng. Lời của nàng thật xúc động, nói về niềm yêu thương, mong nhớ của mình đối với người chồng sẽ đi xa, rồi bày tỏ nỗi lo lắng trước những gian lao nguy hiểm mà người chồng sẽ trải qua, niềm mong ước được đoàn tụ ... làm mọi người trong tiệc đều ứa hai hàng lệ.
            Chồng đi đánh giặc ngoài biên ải, nàng một lòng son sắt, thuỷ chung, “cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết”, mong đợi chồng về trong cô đơn mòn mỏi “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể, chân trời không thể nào ngăn được”. Hơn nữa, nàng là một người con dâu hiếu kính, tận tuỵ chăm sóc khi mẹ chồng còn sống, chôn cất mẹ chồng khi mẹ qua đời (lo liệu như đối với mẹ đẻ mình).
Rồi đằng đẳng thời gian trôi qua, chồng ra lính trở về, cùng là lúc nàng bị nghi oan. Vũ Nương đã phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình: “Thiếp vốn con kẻ khó ... mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Nàng đã nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định lòng chung thuỷ, hết lòng tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ bị tan vỡ. Dù họ hàng, làng xóm có bênh vực và biện bạch, Trương Sinh vẫn không tin. Bất đắc dĩ Vũ Nương thống thiết: “Thiếp sỡ dĩ nương tựa vào chàng ... đâu có thể lên núi vọng phu kia nữa!”. Đó là hạnh phúc gia đình, niềm khao khát của cả đời nàng giờ đây tan vỡ. Tình yêu không còn, cả nỗi đau khổ chờ chồng giờ đây hoá đá....
            Tuyệt vọng vì phải gành chịu nỗi oan khuất tày trời không phương giải bày, cứu chữa nàng đành mượn cái chết để chứng tỏ tiết hạnh trong sáng của mình. lời khấn nguyện với thần linh vô cùng thảm thiết: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Nga Mĩ. Nhựợc bằng lòng chim, dạ cá, lừa dối chồng con, được xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ ...” lời khấn nguyện đã làm cho người đọc xót xa - con người rơi cảnh ngộ bế tắc, không thể tiếp tục sống để tự giải oan tình mà phải tìm đến cái chết để thần linh chứng dám.
Sau một năm ở thuỷ cung, khi nghe kể chuyện nhà, nàng đã ứa nước mắt khóc, nghĩ đến câu “ngựa Hồ gầm giá Bắc, chim Việt đậu cành Nam” rồi hiện về trên dòng nước cho thoả lòng nhớ chồng, con.
          Qua những hoàn cảnh khác nhau của vũ Nương, với những lời tự thoại của nàng, truyện đã khẳng định những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam - một người phụ nữ đẹp người, lại nết na, hiền thục, đảm đang, tháo vát, rất mực hiếu kính với mẹ chồng, giữ vẹn lòng chung thuỷ sắt son với chồng, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình, .... lẽ ra phải được hạnh phúc trọn vẹn thế mà phải chết một cách oan uổng, đau đớn.
           Cái chết của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân sâu xa, bắt nguồn từ hiện thực nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến của xã hội cũ, với chế độ “nam quyền”, coi rẻ thân phận của người phụ nữ, rồi tính đa nghi, ghen tuông của chồng, thói hung bạo, gia trưởng của chồng đã làm khổ đau bao cuộc đời những người phụ nữ.
Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần không bình đẳng (thiếp vốn con nhà khó, được nương tựa nhà giàu). Xã hội phong kiến lại coi trọng “nam quyền”, hơn nữa Trương Linh lại có tính đa nghi, đối với vợ thì phòng ngừa quá mức. Những chi tiết này chuẩn bị cho những hành động độc đoán của Trương Sinh sau này.
Khi đánh giặc trở về, Trương Sinh cũng mang một tâm trạng nặng nề: mẹ qua đời, con vừa học nói, lòng buồn bã. Trong hoàn cảnh như thế, lời của Bé Đản dễ kích động tính hay ghen của Trương Sinh: “trước đây, thường có một người đàn ông đêm nào cũng đến...”
            Điều đáng trách là thái độ và hành động độc đoán của Trương Sinh khi ấy. Không đủ bình tĩnh để tìm hiểu vấn đề, chàng bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm, không chịu nói ra duyên cớ ghen hờn. Cuối cùng, Sinh lại mắng nhiếc nàng và đánh đuổi nàng đi. Thái độ và hành động của Trương Sinh vô hình dung dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ Nương.
Hành động gieo mình xuống sông Hoàng Giang của Vũ Nương phản ánh một thực trạng về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ bị buộc chặt trong khuôn khổ khắt khe của lễ giáo, bị đối xử bất công, bị áp bức và chịu nhiều khổ đau, bất hạnh. Đó cũng chính là giá trị tố cáo hiện thực của tác phẩm. Đằng sau nỗi oan của người thiếu phụ Nam xương, còn bao nhiêu oan tình bất hạnh mà người phụ nữ ngày xưa phải gánh chịu: Nàng Kiều trong “Truyện Kiề”u của Nguyễn Du, người cung nữ trong “cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, người phụ nữ lỡ duyên tình trong thơ Hồ Xuân Hương, ...
           Phải nhận thấy rõ rằng với truyện ngắn đầu tiên viết bằng chữ Hán, Nguyễn Dữ đã có những mặt thành công trong nghệ thuật xây dựng truyện, xây dựng những đoạn đối thoại. Cách kể chuyện hấp dẫn, xây dựng tình tiết, thắt nút và gỡ nút thật bất ngờ, đầy kịch tính, càng làm cho nỗi oan tình của nhân vật hiện ra với tất cả nét thảm khốc.
            “Thắt nút” truyện bằng yếu tố bất ngờ. Một câu nói ngây thơ nghe như thật của trẻ thơ mà gây bão tố dây chuyền trong cuộc đời. Bão tố nghi kị trong một đầu óc nam quyền độc đoán, thiếu trí tuệ ; bão tố bất hoà dữ dội phá tan hạnh phúc của một gia đình êm ấm. Bão tố oan khiên phá nát cuộc đời của một người con gái trong trắng, phải kết thúc bi thảm trêm một dòng sông.
              “Gỡ nút” cũng bất ngờ bằng một câu nói trẻ thơ non dại (khi chỉ cái bóng của chàng Trương trên vách: “cha Đản lại đến kia kìa” thì bao nhiêu oan khiên gây thảm kịch trong phút chốc bỗng được sáng tỏ.
            Truyện có những đoạn đối thoại và những lời tâm tình của nhân vật được sắp xếp đúng chỗ, làm cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc hoạ diễn biến tâm lí và tính cách nhân vật ; lời nói của bà mẹ Trương Sinh nhân hậu, từng trải ; lời lẽ của Vũ Nương bao giờ cũng chân thành, dịu dàng, mềm mỏng, có lí, có tình - lời của người phụ nữ hiền thục, đoan chính ; lời của Bé Đản hồn nhiên, ngây thơ, thật thà.
          Chuyện đáng lẽ có thể kết thúc ở đoạn “gỡ nút” truyện, chàng Trương Sinh tỉnh ngộ, thấu hiểu nỗi oan của Vũ Nương nhưng Nguyễn Dữ đã thêm phần Vũ Nương trở về dương thế, gặp chồng trong thoáng chốc. So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, Nguyễn Dữ đã tái tạo truyền kì từ cổ tích để nâng truyện lên những giá trị tư tưởng và thẩm mĩ mới. Điều đó, làm tăng thêm sức hấp dẫn của truyện và hoàn chỉnh tính cách nhân vật Vũ Nương, thoả mãn ước mơ của nhân dân là “ở hiền gặp lành”, ngưởi tốt sẽ được đền bù. Truyện kết thúc có hậu. Trong truyện, những yếu tố truyền kì tập trung ở phần sau của truyện như con rùa mai xanh được Phan Lang cứu, Vũ Nương được ở lại Thuỷ Cung, rồi hiện về với kiệu hoa rực rỡ trên sông... đó là những tình tiết kì ảo, không có thực nhưng đã tạo ra một thế giới nghệ thuật lung linh huyền ảo.
         Số phận và cuộc đời thực sự vẫn là thực xưa nay. Yếu tố hoang đường truyền kì không thể cứu được cuộc đời Vũ nương với số phận bi thảm của nàng. Vũ Nương muốn sống lại mà không được sống, muốn trở về với chồng con và quê hương mà không thể trở về được.
          Truyện “Người con gái Nam Xương” có giá trị hiện thực tố cáo và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Nghĩ về Vũ Nương và biết bao thân phận người phụ nữ khác trong xã hội phong kiến được phản ánh trong các tác phẩm văn học cổ, chúng ta càng thấy rõ giá trị cuộc sống của những người phụ nữ Việt Nam trong một xã hội tốt đẹp hôm nay. Họ đang vươn lên làm chủ cuộc đời, sống bình đẳng, hạnh phúc với chồng con và được đề cao nhân phẩm trong xã hộ, xã hội của thời đại mới.
2  Nguyễn Du - “một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn”.
a. “ Trái tim lớn”, “nghệ sĩ lớn” biểu hiện qua sáng tác của Nguyễn Du.
Giải thích:
- Trái tim lớn:  là tâm hồn, tấm lòng cao đẹp, chứa chan tình yêu thương.
- Nghệ sĩ lớn: trí tuệ lớn, tài năng thơ ca trác việt. (tài)
Ở Nguyễn Du: Tâm cũng lớn mà tài cũng lớn. Đọc Nguyễn Du, nhất là Truyện Kiều, người ta thấy “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” và cũng thấy rằng tất cả lời ngọc ý vàng ấy đều được viết ra từ một tấm lòng đau đớn cho thân phận con người, cho thời thế và cho nhân thế. Ngọc của nghệ thuật Nguyễn Du đúng là kết tinh từ vết thương lòng của một trái tim từng quặn đau trong biển đời.
Chứng minh:
Luận điểm 1: Trái tim lớn của Nguyễn Du, trái tim mang trong nó một nỗi đau vĩ đại, một tình yêu thương sâu rộng.
     Cuộc đời Nguyễn Du có nhiều sóng gió, 10 năm lưu lạc trên đất Bắc là khoảng thời gian điêu đứng, long đong. Nguyễn Du đã nếm trải đủ cay đắng, ngọt bùi trên đời. Các sáng tác của ông là bức tranh sinh đọng về xã hội, những cảnh đời trước mắt. Chính vì vậy, các tác phẩm của ông đều toát lên  tinh thần nhân đạo sâu sắc.
* Trái tim của thi hào giành tình thương cho tất cả những kiếp người đau khổ.
     Ông thương người mẹ lang thang cầu bất cầu bơ lê mình đi ăn xin cho ba đứa con (Sở kiến hành).
     Ông thương cả những cô cầm vừa quen vừa lạ, hai mươi năm trước tài sắc nổi tiếng đất Long Thành, vương hầu công tử xúm xít quanh mình. Thế mà nay đã thành một bà già tàn tạ “tóc hoa râm, mặt võ, mình gầy” bị bỏ quên ngay bên tiệc rượu để rồi “Lệ thương tâm ướt vạt áo là” (Long thành cầm giả ca).
     Ông đau đớn nghẹn ngào cho Khuất Nguyên - một nhà thơ lớn của Trung Quốc, sống cách ông hơn 2000 năm ( Phản chiêu hồn ).
      Nhà thơ thương xót cả những người lính Trung Quốc bị đẩy vào cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, phải qua lại nơi cửa ải nguy hiểm ( Quỷ Môn quan).                      
      Trái tim của Nguyễn Du thật dễ xúc động, dễ tổn thương, sự đồng cảm của nó là không biên giới, không thời gian. Mọi nỗi buồn đau, thống khổ của kiếp người vang động đến đều có thể làm cho trái tim ấy rỉ máu. Ngòi bút của Nguyễn Du chấm vào thứ máu ấy mà viết lên những trang thơ.
     Trái tim mẫn cảm của Nguyễn Du giành phần thống thiết nhất cho thân phận bi kịch của những con người tài hoa, nhất là những người phụ nữ tài sắc. Ông xót thương cho Tiểu Thanh (Độc Tiểu Thanh kí), cho nàng KIều (Truyện Kiều). Niềm cảm thông, thương xót của Nguyễn Du dành cho Thúy Kiều thật sâu sắc. Mười lăm năm lưu lạc đời Kiều, Nguyễn Du lận đận theo nàng trên từng trang sách. Ông bồi hồi trước mối tình đầu của nàng, ông đau đớn khi nàng ra đi dấn thân vào quãng đường đời ô nhục , ông nhìn thấu cuộc đời đau khổ, số phận bèo bọt của người con gái tài sắc ấy để rồi thốt lên đầy thương cảm:
                            “Thương thay cũng một kiếp người
                              Hại thay mang lấy sắc tài làm chi”
* Thương xót và căm phẫn, trái tim Nguyễn Du đã phẫn nộ trước những thế lực chà đạp con người.
- Ngòi bút Nguyễn Du đã tố cáo bọn quan lại cường quyền độc ác, bỉ ổi, đê tiện (Truyện Kiều, Phản chiêu hồn, Sở kiến hành).
- Ông căm ghét lên án thế lực đồng tiền hắc ám (Truyện Kiều).
       Nguyễn Du là người đầu tiên trong lịch sử văn học Việt nam đã phác hoạ ra một bức tranh xã hội toàn diện, lấy những đau khổ của những con người đương thời để nêu lên thành những vấn đề chung, thành vấn đề của con người trong xã hội có áp bức, bóc lột. Đó là một tinh thần nhân đạo bao quát của Nguyễn Du. Cái thế giới làm cho ông cảm thương, xót xa là cái thế giới của tất cả những người bị giày xéo, đoạ đày về thể xác cũng như tinh thần. Lời tố cáo của Nguyễn Du là lời tố cáo đánh vào những kẻ, những chế độ chà đạp lên con người. Tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du đã vạch rõ ranh giới giữa yêu và ghét.
* Trái tim lớn chứa chan tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện ở tiếng nói đề cao, trân trọng con người trong sáng tác của nhà thơ.
- Trong Truyện Kiều, ông hết lòng ngợi ca vẻ đẹp của con người qua việc xây dựng các nhân vật:
Thuý Kiều - một trang tuyệt thế giai nhân.
 Kim Trọng - một nho sinh hào hoa, phong nhã.
 Từ Hải - bậc anh hùng phi phàm.
- Nguyễn Du trân trọng, đề cao ước mơ, khát vọng chân chính của con người. Khát vọng về tình yêu tự do được thi hào thể hiện qua việc xây dựng mối tình Kim - Kiều; ước mơ công lí, tự do được gửi gắm qua hình tượng Từ Hải (Truyện Kiều).
b.  Nguyễn Du không chỉ  là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn mà còn là một nhà nghệ sĩ lớn.
    Ông là người đầu tiên trong lịch sử văn học trung đại đã đưa nghệ thuật văn học, đặc biệt là nghệ thuật thơ ca Việt Nam lên một đỉnh cao vời vợi chưa từng thấy.
+ Truyên Kiều là một kiệt tác chứng tỏ nguyễn Du là một ngòi bút thiên tài, là bậc thầy của nghệ thuật thơ ca ở nhiều phương diện.
-  Tài miêu tả, khắc hoạ tính cách nhân vật: Khắc hoạ bằng một vài nét nhưng rất đậm đà sắc sảo, nổi bật lên như chạm khắc.
-  Miêu tả thiên nhiên, tâm trạng đặc sắc.
-  Nguyễn Du là một bậc thầy về ngôn ngữ.
+  Ngoài ra: thơ chữ Hán, văn chiêu hồn của Nguyễn Du đạt được nhiều thành tựu đắc sắc về nghệ thuật.
3. Kết luận.
      Với một trái tim dạt dào tình người, tình đời, một ngòi bút tài hoa hiếm thấy, Nguyễn Du và tác phẩm của ông mãi mãi được ca tụng, lưu truyền. Nguyễn Du xứng đáng được coi là một thiên tài văn học, một danh nhân văn hoá tầm cỡ nhân loại. Như M.Gorki, Puskin, Lỗ Tấn..., tên tuổi và sự nghiệp của ông làm rạng danh cho nền văn hoá dân tộc và thế giới.
3. Nghệ thuật miêu tả và khắc họa tính cách nhân vật trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
a. Miêu tả ngoại hình:
     (Qua các đoạn trích: “Chị em Thúy Kiều”, “Mã Giám Sinh mua Kiều”, “Kiều gặp Kim Trọng”, “Kiều gặp Từ Hải”…).    
     Miêu tả ngoại hình độc đáo : sự dụng ước lệ, ẩn dụ, tượng trưng, so sánh…; dùng từ “đắt”.
     Qua nét vẽ ngoại hình hé lộ phẩm chất, tính cách và cả số phận nhân vật.
b. Miêu tả hành động, cử chỉ, ngôn ngữ nhân vật.
Miêu tả cụ thể hành động, lời nói của nhân vật (Mã Giám Sinh mua Kiều)
Dùng ngôn ngữ độc thoại nội tâm (Kiều ở lầu Ngưng Bích).
Dùng ngôn ngữ đối thoại ( Thúy Kiều báo ân báo oán).    
ð     Khắc họa tính cách.
Đặt nhân vật vào những cảnh ngộ đặc biệt, dự báo về số phận.
c. Nghệ thuật miêu tả nội tâm, phân tích tâm lí.
Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế (“Mã Giám Sinh mua Kiều”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Kiều báo ân báo oán).
- Trực tiếp (Mã Giám Sinh mua Kiều).
- Gián tiếp - bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình (Kiều ở lầu Ngưng Bích).
ð     Khắc họa tính cách, số phận nhân vật
d. Xây dựng nhân vật theo hai tuyến với bút pháp riêng.
a. Tuyến nhân vật chính diện (Thúy Kiếu, Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải).
-  Xây dựng theo lối tưởng tượng hóa
-  Miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng trưng.
-  Ngôn ngữ chọn lọc trau chuốt.
-  Với nhân vật chính diện Nguyễn Du dành cho họ những tình cảm yêu mến trân trọng và cảm thông chia sẻ sâu sắc (thể hiện qua việc lựa chọn chi tiết hình ảnh miêu tả và sử dụng ngôn ngữ).
b. Tuyến nhân vật phản diện (Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Hoạn Thư , Hồ Tôn Hiến).
-  Được khắc họa theo lối hiện thực, bằng những bút pháp cụ thể, lịch sử.
-  Ngôn ngữ miêu tả trực diện.
-  Nguyễn Du ngầm tỏ thái độ khinh bỉ, căm phẫn sâu sắc.
4. Ngôn ngữ “Truyện Kiều”.    
a. Một số ý kiến nhận định về ngôn ngữ “Truyện Kiều”.
      “Tiếng nói Việt Nam trong Truyện Kiều như làm bằng ánh sáng vậy”- Nguyễn Đinh Thi.
      “Với Truyện Kiều, Tiếng Việt đã trở nên đẹp dẽ, trong sáng, mềm mại, uyển chuyển, thanh tao”- Nguyễn Khách Toàn.
*. Đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”.
* Sử dụng chữ Nôm điêu luyện, khai thác vốn từ vựng Tiếng Việt một cách triệt để, tinh tế.
Nguyễn Du đủ vốn liếng ngôn ngữ để diễn tả thế giới nhân vật, sự việc, con người, cảnh vật, tâm trạng… vô cùng phong phú.  Nhà thơ dùng từ ngữ “đắt”, chính xác, không gò ép gượng gạo trong tả người, tả cảnh và tình khiến người đọc cảm thấy rằng với nhân vật đó, sự việc đó, tâm tư đó nhất định phải nói như vậy và khó lòng mà lấy những tiếng, lời lẽ khác thay thế được.
VD: -   “Cỏ non xanh tận chân trời”
-         “Hoa cười ngọc thốt đoan  trang”
-         “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”.
-         “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
-          “Cậy em em có chịu lời”
-           “Chẳng ngờ Mã Giám Sinh”
        Sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, phong phú, sáng tạo.
-  Tả nhân vật chính diện, Nguyễn Du sự dụng những ngôn ngữ có tính ước lệ, trang trọng.
-  Tả nhân vật phản diện, Nguyễn Du sử dụng ngôn ngữ trực diện.
-  Tả cảnh: ngôn ngữ chọn lọc tinh tế, giàu  sức gợi .
-  Tả cảnh ngụ tình: ngôn ngữ hàm súc, đa nghĩa.
-> Sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, phong phú, sáng tạo.
*  Sử dụng từ ngữ chọn lọc, trau chuốt, tinh tế với các từ gợi thanh, gợi hình và các biện pháp tu từ đặc sắc.
* Từ tiếng nói hằng ngày của nhân dân tiếp theo là của các nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc ở các đời trước, Nguyễn Du tạo ra tiếng nói văn học dồi dào, giản dị mà chính xác, uyển chuyển, đầy hình ảnh và âm điệu.
-  Từ địa phương
-  Thành ngữ, tục ngữ.
-  Từ Hán Việt.
Hai thành phần ngôn ngữ - bình dân, bác học kết hợp với nhau, bổ sung cho nhau tạo thành một thứ ngôn ngữ nghệ thuật thơ ca vừa hàm súc, trang nhã vừa giản dị, văn vẻ, giàu hình ảnh và âm điệu, đạt tới đỉnh cao chói lọi có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam.
*. Kết luận.
       Như vậy, đến “Truyện Kiều” tiếng Việt đã đạt đến đỉnh cao của ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ có chức năng biểu đạt (phản ánh), biểu cảm (biểu hiện cảm xúc) mà còn có chức năng thẩm mĩ (vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ, âm điệu hình tượng). Tiếng Việt trong Truyện Kiều hết sức giàu và đẹp
4. Hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam từ giữa thế kỉ XVI đến giữa  thế kỉ XIX.
a. Đề tài người phụ nữ trong văn học trung đại.
       Từ thế kỉ XVI, hình ảnh người phụ nữ đã đi vào văn học viết. đến thế kỉ XVIII thì hình ảnh này đã trở thanhf đề tài lớn của văn học. Các thể loại của văn học ở TK XVI đên XIX như văn xuôi, truyện nôm, thơ  với các tác phẩm tiêu biểu như: Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ, Truyện Kiều – Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều… và những lời thơ nôm của Hồ Xuân Hương đều phản ánh đề tài này.
b. Nội dung phản ánh về người phụ nữ.
    Hình tượng người phụ nữ trong giai đoạn văn học này được khắc họa  với vẻ đẹp hoàn hảo, đáng trân trọng nhưng cuộc đời, số phận lại hết sức bất hạnh.
*  Hình tượng người phụ nữ trong văn học từ TK XVI đến giữa TK XIX là hiện thân của cái đẹp.
* Nhan sắc hoàn mĩ, vượt trội.
       Một Vũ Nương với vẻ đẹp thuần hậu, dịu dàng.
       Một nàng Kiều  đẹp “ nghiêng nước nghiêng thành”…
* Phẩm hạnh cao quý.
      Họ luôn mang những phẩm chất, đức tính đẹp đẽ: hiếu nghĩa, thủy chung, vị tha…( Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương, Thúy Kiều trong Truyện Kiều)
      Người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương bị xã hội đối xử bất công, bị vùi dập nhưng luôn giữ phẩm chất, tâm hồn trong sáng (Bánh trôi nước).
*  Hình tượng người phụ nữ trong văn học các thế kỉ này còn là hiện thân của những số phận đau thương.
+ Nỗi đau khổ, oan nghiệt của Vũ Nương trong “ Truyện người con gái Nam Xương” – Nguyễn Dữ.
+ Cuộc đời trầm luân, dâu bể đầy bất hạnh của Thúy Kiều trong “ Truyện Kiều” – Nguyễn Du.
+ Dưới chế độ phong kiến, nhiều thế lực hắc ám trong xã hội đã vùi dập, chà đạp lên thân phận người phụ nữ.
- Vua chúa, quan lại xa đọa, tàn ác đã đày đọa cuộc đời người phụ nữ xưa ( qua “Cung oán ngâm khúc”, “Truyện Kiều).    
- Chiến tranh phong kiến gieo bao nỗi bất hạnh cho họ. “Chinh phụ ngâm” của Đoàn Thị Điểm là tiếng kêu xé lòng của người phụ nữ có chồng bị cuốn vào vòng chiến tranh ấy.
- Người phụ nữ còn chịu biết bao đau khổ bởi những hủ tục, thành kiến bất công, hẹp hòi: tư tưởng trọng nam khinh nữ, chế độ đa thê…
*  Thái độ của các tác giả khi viết về người phụ nữ.
       Các nhà văn, nhà thơ đã thể hiện lòng trân trọng đặc biệt với người phụ nữ khi khắc họa, ngợi ca vẻ đẹp của họ.
       Phản ánh những bi thảm của người phụ nữ, các tác giả không giấu nổi lòng xót xa, đau đớn.
*  Ý nghĩa của vấn đề.
       Qua hình tượng người phụ nữ, các tác giả văn học thế kỉ XVI – XIX đã góp vào trào lưu nhân đao chủ nghĩa một nội dung hết sức phong phú, góp vào tiếng nói đòi giải phóng con người, đặc biệt là người phụ nữ.
5.  Giá trị nhân đạo của  văn học Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX.
 a. Khái quát về nội dung nhân đạo trong văn học.
* Các khái niệm
- Nhân ái: lòng yêu thương con người.
- Nhân đạo: đạo người, lấy lòng nhân  ái, thương người của mình để cư xử với người khác; là lòng trân trọng, thương yêu con người, vì nhu cầu lợi ích cho con nguời và niềm cảm thông với con người.
* Giá trị nhân đạo trong tác phẩm văn học thường có các nội dung biểu hiện sau:
- Thái độ cảm thông, tình cảm xót thương với những kiếp người bất hạnh
- Lên án những cái sấu xa trà đạp lên quyền sống của con người
- Trân trọng ngợi ca đề cao giá trị con người. đề cao ước vọng chân chính cao đẹp của họ
- Thể hiện ước mơ, khát vọng về một xã hội công bằng bắc ái, tôn trọng phẩm giá và hạnh phúc con người
Lưu ý:
      Ở những tác giả, tác phẩm lớn nội dung nhân đạo còn mang theo tinh thần quốc tế. Dù có nhiều biểu hiện phong phú đa dạng nhưng trọng tâm và hạt nhân của chủ nghĩa nhân đạo là vấn đề con người
      Một số tác phẩm có thể có đầy đủ phương diện nói chung của cảm hứng nhân đạo cũng có tác phẩm chỉ đi sâu vào một khía cạnh nào đó.
     Tuỳ theo tính chất, giới hạn của vấn đề mà xác định độ rộng, độ sâu của giá trị nhân đạo
b. Giá trị nhân đạo của văn học trung đại Việt Nam (thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX).
*  Bối cảnh xã hội
+ Xã hội phong kiến khủng hoảng, suy tàn, mọi tầng lớp nhân dân chịu nhiều đau khổ. Xã hội ấy chà đạp không thương tiếc số phận và nhân phẩm con người.
+ Ý thức về con người cá nhân phát triển.
* Những nội dung cụ thể của cảm hứng nhân đạo trong văn học giai đoạn này.
- Đề cao ca ngợi những giá trịcủa con người.
+ Nguyễn Dữ khẳng định đề cao vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ qua nhân vật Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương).
+ Hồ Xuân Hương miêu tả ca ngợi vẻ đẹp hình thể, tâm hồn của người phụ nữ (Bánh trôi nước, Đề tranh Tố Nữ).
+ Nguyễn Du ca ngợi cả về tài, sắc, tình, tâm hồn của Thuý Kiều với tấm lòng trân trọng đặc biệt ( Truyện Kiều).
-  Lên án những thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống, phẩm giá của con người.
+ Giai cấp thống trị:
Vua chúa xa đoạ tàn ác (Vũ trung tuỳ bút; Cung oan ngâm khúc).
Quan lại bỉ ổi, tay sai bất lương (Truyện Kiều).
+ Lễ giáo phong kiến hà khắc, định kiến bất công hẹp hòi (Chuyện người con gái Nam Xương).
+ Tố cáo thế lực đồng tiền ( Truyện Kiều).
- Lòng xót thương, cảm thông với mọi kiếp người bất hạnh ( Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ, Truyện Kiều - Nguyễn Du).
- Đề cao ước mơ, khát vọng của con người.
+ Khát vọng về quyền sống, quyền hạnh phúc (Chuyện người con gái Nam Xương, Chinh phụ ngâm).
+  Khát vọng về tình yêu tự do (Truyện Kiều).
+ Ước mong một xã hội tốt đẹp cho con người (nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều  là đại diện cho tự do, công lí trong xã hội).
II. THỰC HÀNH CÁC DẠNG ĐỀ
Câu 1: Tâm và tài Nguyễn Du qua đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Truyện Kiều- Nguyễn Du).
Gợi ý: Tìm hiểu đề:
* Kiểu bài: nghị luận văn học
* Nội dung: Tâm và tài của Nguyễn Du.
* Phạm vi: Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích trong Truyện Kiều - Nguyễn Du.
Tìm ý:
Với đề bài trên cần đạt được các ý cơ bản sau đây:
a/ Hiểu đúng  Tâm và tài của Nguyễn Du.
- Tâm là: Tấm lòng, tình cảm, trái tim giàu cảm xúc, cảm thông, rung động trước cuộc đời trước mỗi số phận con người, yêu thương tha thiết, thái độ trân trọng, bênh vực che chở  con người.
- Tài là : Tài năng, tài hoa, uyên bác, đó là sự thăng hoa , bay bổng trong sáng tạo và sự công phu mài rũa phi thường của người nghệ sĩ . Tài năng ấy chính là sự diễn đạt đúng cảnh, đúng tình , đúng người , đúng tâm trạng ; ở ngôn ngữ chọn lọc công phu mài rũa…
Nguyễn Du thường nói đến tâm và tài và thường đề cao cái tâm “ Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Nhưng ở trong các tác phẩm của Nguyễn Du  người ta thấy sự cân xứng hài hoà của một trái tim lớn (tâm), một nghệ sĩ lớn (tài) . Tâm lớn mà tài cũng lớn. Đọc Nguyễn Du , nhất là Truyện Kiều thể hiện sự sáng tạo, một bút lực phi thường “ Lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu” và tất cả những lời vàng ngọc ấy đều được viết ra từ một tấm lòng đau đớn cho thân phận loài người, cho thời thế và cho nhân thế.
b/  Tâm và tài Nguyễn Du thể hiện qua đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích”
* Cái tâm Nguyễn Du thể hiện :
- Nguyễn Du như hóa thân vào Thúy Kiều để tạo dựng cảnh ngộ, tâm trạng của nàng
- Cảnh thiên nhiên nơi lầu Ngưng Bích có đủ núi xa trăng gần nhưng cả ba chiều đều gợi về hoang vắng, xa lạ, cách biệt. Nó tô đậm cảnh ngộ cô đơn góp phần bộc lộ tâm trạng cô đơn buồn tủi của Thúy Kiều. Cảnh vật càng rộng lớn bát ngát thì con người Kiều ở đây càng nhỏ nhoi, cô đơn, càng buồn tủi, ngổn ngang...Bẽ bàng vì buồn tủi bởi chỉ có mây làm bạn sớm và đèn trong làm bạn đêm khuya « Bẽ bàng mây sớm  đèn khuya »...làm tấm lòng Kiều như bị cắt ra đau đớn.
- Tấm lòng thi sĩ như thấu hiểu nỗi nhớ niềm thương của Kiều. Trong tâm trạng cô đơn, Kiều nghĩ về quá khứ, người thân đó là Kim Trọng, đó là cha mẹ...nhưng càng nghĩ , càng nhớ thì càng đau xót. Nhớ chàng Kim thì « Vầng trăng vằng vặc...song song » rồi quay lại mình « Tấm son gột rửa bao giờ cho phai » càng thêm đau đớn...nhớ cha mẹ thì « Xót người tựa cửa...gốc tử đã vừa người ôm »
          Cực tả nỗi nhớ niềm thương, Nguyễn Du thêm một lần đề cao vẻ đẹp đức hạnh của Kiều. Trái tim Nguyễn Du xúc động đau đớn, thấu hiểu cảm thông lạ lùng với Kiều mới có thể hiểu hết những tình cảm xót xa, tội nghiệp của người con gái xa nhà thương cha mẹ, tình yêu tan vỡ, mới viết được dòng thơ miêu tả tâm trạng đặc sắc ấy.
          Tâm trạng cô đơn trước cửa biển chiều hôm. Đây chính là bức tranh tâm trạng đăc sắc nhất, chỉ với câu lục bát chia thành bốn cặp, những câu lục bát được diễn đạt bắt đầu bằng « Buồn trông ». Bốn lần buồn trông từ xa tới gần, từ cao xuống thấp từ hình ảnh , màu sắc đến âm thanh...tạo nên sự điệp nhịp, như nỗi buồn đang dâng lên lớp lớp. Đoạn thơ đã diễn tả được diễn biến tâm trạng nàng Kiều từ nhìn đơn côi - cánh buồm xa xa, nhìn băn khoăn - hoa trôi man mác biết là về đâu, nhìn nhòa nhạt - không thấy người đi, không thấy hy vọng gì chỉ một màu xanh xanh. Nhìn biển - nhìn nước - nhìn cỏ - nhìn gió vẫn là một kiểu « buồn trông ». Nhưng đến lần thứ tư, tiếng sóng biển đã ập vào tâm trạng nàng, bao bọc lấy nàng bằng tiếng kêu dữ dội « ầm ầm tiếng sóng »
          Nguyễn Du rất hiểu tâm trạng cô đơn lẻ loi của Kiều và đã miêu tả thiên nhiên và miêu tả tâm trạng thật tinh tế, thiên nhiên thấm đẫm tâm trạng, bộc lộ tâm trạng theo qui luật tâm lý « Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ».
* Cái tài của Nguyễn Du thể hiện qua đoạn thơ :
- Miêu tả thiên nhiên chân thực sống động, từ xa đến gần , từ nhạt đến đậm. Thiên nhiên đẹp nhưng buồn, hợp với qui luật tâm lý.
- Qua thiên nhiên để gợi tả tâm trạng của Kiều, một thành công của tả cảnh ngụ tình :
- Dùng thành ngữ điển cố nhuần nhuyễn. Kết hợp từ thuần nôm với Hán Việt.
- Dùng điệp ngữ, từ láy, ẩn dụ vừa gợi tả vừa gợi cảm
- Qua độc thoại nội tâm để bộc lộ tâm trạng Kiều vừa hợp lý vừa sâu sắc.
     Bút pháp tả cảnh ngụ tình làm cho đoạn trích không chỉ là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng.         
Câu 2: Nói về nghệ thuật miêu tả nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có  ý kiến cho rằng: “Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã rất tài tình trong việc khắc hoạ nhân vật. Nhưng tác giả không chỉ dừng lại ở dáng vẻ bề ngoài, với ông, tả ngoại hình là để giúp cho người đọc hình dung rõ hơn bản chất, tính cách bên trong của nhân vật”.
Em hãy trình bày cảm nhận của mình về các nhân vật: Thuý Vân, Thuý Kiều, Mã Giám Sinh và nhận xét nghệ thuật miêu tả nhân vật của  Nguyễn Du.
Gợi ý: I/  Yêu cầu chung :
1. Cảm nhận được về  các nhân vật (cả ngoại hình và tính cách, cả vẻ đẹp và sự xấu xa)
2. Phân tích, bình giá được nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du.
Với đề bài này học sinh có thể  trình bày theo hai cách:
Cách một : giải quyết từng ý cụ thể
+  Cảm nhận được về  các nhân vật  Thuý Vân, Thuý Kiều, Mã Giám Sinh.
+ Phân tích, bình giá được nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du.
 Cách hai : kết hợp giải quyết cả hai ý  ( trong khi phát biểu cảm nghĩ về nhân vật có thể kết hợp trình bày luôn về nghệ thuật miêu tả nhân vật ) .
(Ở đây hướng dẫn theo cách thứ hai).
II/ Yêu cầu cụ thể
1/ Cảm nhận về các nhân vật.
Cần thể hiện được cảm nhận của mình thông qua việc chọn dẫn những chi tiết, tiêu biểu làm dẫn chứng , phân tích, bình luận làm nổi bật những ý chính sau:
1.1/ Thuý Vân : Vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu, sang trọng, tươi tắn. Vẻ đẹp như báo trước số phận yên ổn, may mắn của nàng .
1.2/ Thuý Kiều : Vẻ đẹp “ sắc sảo, mặn mà”  không chỉ đẹp mà  Kiều còn có tài : tài làm thơ, tài vẽ tranh, tài ca hát, tài đánh đàn, tài nào cũng đến mức điêu luyện, thành “nghề”. Ngoài vẻ đẹp hình thức của thiếu nữ “ nghiêng nước, nghiêng thành”, nàng là một người đa cảm, mang vẻ đẹp  nội tâm sâu sắc, phong phú : dám hy sinh mối tình riêng tư đẹp đẽ của mình để cứu nạn cho cả gia đình, chung tình với Kim Trọng, luôn vươn lên vượt qua hoản cảnh để hướng thiện; mặc dù thân phận bị đày đoạ, nhưng phẩm hạnh và sắc đẹp của nàng đã khiến cho Từ Hải say mê “ Tấm lòng nhi nữ  cũng siêu anh hùng”. 
1.3/ Mã Giám Sinh: Hiện thân của một nho sĩ giả danh ( mập mờ về tên họ, dối trá trong cách xưng danh “Mã Giám Sinh”, tung tích không rõ ràng Lâm Tri hay Lâm Thanh …); một kẻ lưu manh ( đi với đầy tớ thì ồn ào, láo nháo, vào nhà thì xấc xược vô lễ “ ghế trên ngồi tót sỗ sàng”…), và điều quan trọng nhất: y là gã buôn người ( Đi hỏi vợ, lấy vợ mà như là đi mua bán: cò kè, đắn đo, chi li, “ cân sắc, cân tài” ), lạnh lùng, vô cảm trước nỗi đau của người khác “ép cung cầm nguyệt thử bài qua thơ”
2/ Phân tích, bình giá được nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du.
- Nguyễn Du sử dụng bút pháp ước lệ trong thơ cổ, kết hơp với việc chọn lọc chi tiết trong miêu tả, tả thực nên mỗi nhân vật đều có gương mặt riêng, hết sức sinh động.
- Chú ý hoản cảnh xuất hiện của nhân vật, kết hợp miêu tả ngoại hình với miêu tả hành vi và ngôn ngữ để bộc lộ rõ hơn về nhân vật. đặc biệt thành công trong việc miêu tả, phân tích tâm lý nhân vật, chính những phân tích đó giúp người đọc hình dung rõ hơn về nhân vật .
- Trong khi miêu tả nhân vật ngoài những nhận xét trực tiếp, Nguyễn Du còn dự báo số phận nhân vật ngay trong ngôn ngữ miêu tả và trong cách miêu tả. (Thuý Vân : Vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu, sang trọng, tươi tắn. Vẻ đẹp như báo trước số phận yên ổn, may mắn của nàng . Thuý Kiều : Vẻ đẹp “ sắc sảo, mặn mà” vẻ đẹp và tài năng của nàng dường như đố kỵ với  cả thiên nhiên, tạo hoá, đố kỵ với cả đất trời làm cho : “Hoa ghen vì thua thắm, liễu hờn vì kém xanh”. Nó như báo trước một điều không may mắn ) .
- Cách miêu tả của Nguyễn Du cũng rất linh hoạt, biến hoá, đa dạng tạo nên được hàng loạt những nhân vật sống động trở thành điển hình của cuộc sống, đi vào đời sống : đẹp như  Kiều, ngang tàng như Từ Hải, ghen như Hoạn Thư, tráo trở như  Sở Khanh…. 
Câu 3:
      Trong bài viết “Nguyễn Du, một nghệ sĩ lớn”, khi bàn đến ngôn ngữ “Truyện Kiều”, Hoài Thanh viết:
         “Người đọc xưa nay vẫn xem “Truyện Kiều” như một hòn ngọc quý cơ hồ không thể thay đổi thêm bớt một tí gì, như một tiếng đàn lạ gần như không một lần nào lỡ nhịp ngang cung.”
  Dựa vào “Truyện Kiều” hãy làm rõ tài năng ngôn ngữ cuả Nguyễn Du và lí giải vì sao Nguyễn Du đạt được thành công ấy.
Gợi ý:
1.Yêu cầu chung:
a. Tìm hiểu đề:
- Học sinh phải xác định đúng đây là kiểu bài nghị luận văn học ( giải thích + chứng minh).
- Nội dung nghị luận: Nhận định của Hoài Thanh về tài năng sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”.
- Phạm vi dẫn chứng: “Truyện Kiều”.
b. Nội dung:
    Về cơ bản học sinh phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Hiểu được ý nghĩa của nhà phê bình văn học Hoài Thanh.
- Ý kiến đó tập trung đánh giá tài sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”.
- Lý giải được một số nguyên nhân để Nguyễn Du đạt được trình độ ngôn ngữ thơ như vậy.
- Học sinh phải biết vận dụng kết hợp kiểu bài phân tích và chứng minh văn học. Biết lựa chọn, phân tích những dẫn chứng tiêu biểu thể hiện năng lực cảm thụ văn học.
2. Yêu cầu cụ thể:
a. Giải thích ý kiến của Hoài Thanh:
+ Giải thích các hình ảnh so sánh:
-  “Như hòn ngọc quý cơ hồ không thể thêm bớt”, tức là ngôn ngữ trong “Truyện Kiều” được dũa gọt đến mức điêu luyện hoàn thiện.
- Như tiếng đàn lạ gần như không một lần lỡ nhịp ngang cung”, tức là ngôn ngữ “Truyện Kiều” phong phú, chính xác, sáng tạo, đầy biến hóa.
ð     Hoài Thanh đánh giá rất cao về ngôn ngữ trong “Truyện Kiều”, về tài năng Nguyễn Du qua cách diễn đạt giàu hình ảnh bằng nghệ thuật so sánh, chứng tỏ Nguyễn Du là bậc thầy trong ngôn ngữ thơ ca.
b. Chứng minh tài năng ngôn ngữ của Nuyễn Du trong “Truyện Kiều”.
b.1/“ Truyện Kiều” có nhiều con người, nhiều sự kiện, nhiều cảnh vật, nhiều tâm trạng khác nhau, thậm chí còn đối lập nhau nhưng Nguyễn Du có đầy đủ vốn liếng ngôn ngữ để biểu đạt con người, sự kiện , tâm trạng…
+ Tả người:
-  Tả nhân vật chính diện: Vẫn tuân thủ theo bút pháp truyền thống nhưng có dụng ý sử dụng ngôn ngữ để khái quát hóa cá tính số phận nhân vật. Miêu tả các nhân vật chính diện dùng bút pháp ước lệ, khuynh hướng lý tưởng hóa nhân vật.
          Tả người con gái đẹp mượn những hình ảnh đẹp, những “ khuôn vàng , thước ngọc”: trăng, hoa, tuyết…Thúy Kiều tuyệt sắc, Kim trọng nho nhã tuyệt vời “ Phong tư tài mạo tót vời”.
-  Tả nhân vật phản diện: Dùng bút pháp tả thực, ngôn ngữ trực diện.
+ Tả cảnh:
Dùng ngôn ngữ tái tạo lại cảnh vật theo những nét vẽ của thi pháp truyền thống:
          - Cảnh mùa xuân
          - Cảnh mùa hạ
          - Cảnh mùa thu
          - Cảnh lầu Ngưng Bích.
          - Cảnh ly biệt Kim - Kiều; Kiều - Thúc Sinh
+ Tả tâm trạng: Tả cảnh ngụ tình
 VD:   - “ Kiều ở lầu Ngưng Bích” Tâm trạng buồn → cảnh vật buồn, u hoài, lặng lẽ
          - Đoạn trích “ Kiều gặp Kim Trọng” → Tâm trạng xao xuyến, ngây ngất của Kim Trọng - Kiều khiến cho cảnh vật cũng chở nên tâm tình hơn
b.2/ Sử dụng chữ Nôm điêu luyện:
          Từ một câu truyện chữ Hán trong Thanh Tâm tài nhân viết bằng văn xuôi chữ Hán, Nguyễn Du đã tái tạo một câu chuyện bằng chữ Nôm, viết bằng thể thơ lục bát.
b.3/ Sử dụng ngôn ngữ bình dân - ngôn ngữ bác học:
+  Sử dụng ngôn ngữ bình dân, dùng thể thơ dân tộc (lục bát)
- Sử dụng nhiều  ca dao.
VD  câu thơ :       “ Vầng trăng ai sẻ làm đôi
                     Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”.
Lấy từ một câu ca dao
                             “ Vầng trăng ai sẻ làm đôi
                     Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng.”
- Sử dụng thành ngữ: “ Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau”
+  Sử dụng ngôn ngữ bác học:
-  Dùng nhiều điển tích, điển cố.
-  Sử dụng những khái niệm, thuật ngữ của Lão Trang, Phật , Nho
               “ Tu là cõi phúc, tình là dây oan.”
               «  Bắt phong trần phải phong trần
            Cho thanh cao mới được phần thanh cao »
-  Sử dụng nhiều từ Hán  - Việt.
-  Sử dụng nhịp điệu để tao hiệu quả cho câu thơ.
c. Lý giải nguyên nhân thành công khi sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du.-
+  Hoàn cảnh gia đình : Xuất thân trong một gia đình có nhiều người theo nho học, đỗ đạt cao  → Nguyễn Du có ảnh hưởng
+ Hoàn cảnh xã hội : Nguyễn Du có điều kiện đi nhiều nơi (đi sứ sang Trung Quốc) và nhiều năm sống ở nhiều vùng đất đã cho Nguyễn Du vốn sống, vốn ngôn ngữ phong phú.
+ Bản thân Nuyễn Du là người thông minh, nhạy cảm. Nhà thơ đã sử dụng ngôn ngữ biến hóa tài tình. Chỉ một chữ « hoa » trong Truyện Kiều mà Nguyễn Du đã diễn đạt được bao nhiêu sự việc, bao nhiêu tâm trạng…
+ Là người thông minh, dù tiếp thu từ truyền thống hay vay mượn nước ngoài thì Nguyễn Du luôn có tính sáng tạo, độc đáo.
           Tài năng ngôn ngữ của Nguyễn Du qua quá trình học tập và trau dồi đã cho ta thấy Nguyễn Du xứng đáng vị trí bậc thầy trong ngôn ngữ thơ ca cổ điển. 
Câu 4:
    Phân tích tiếng nói đồng cảm, trân trọng, ngợi ca người phụ nữ qua các tác phẩm: “ Chuyện người con gái Nam Xương”- Nguyễn Dữ, “ Truyện Kiều”- Nuyễn Du, “ Bánh trôi nước”- Hồ Xuân Hương và “ Truyện Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu?                                                                                                                                                                                                               
Gợi ý :                        
* Yêu cầu về kĩ năng:
 -  Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận có bố cục, luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, hợp lí. Lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu và phân tích sâu sát.
 -  Diễn đạt lưu loát, có hình ảnh và cảm xúc.
* Về nội dung:
    Cần nêu được các luận điểm, luận cứ cơ bản sau:
Nhận xét chung: Người phụ nữ hiện lên qua các tác phẩm văn học trung đại đều có vẻ đẹp, phẩm hạnh cao quý nhưng cuộc đời lại vô cùng bất hạnh.
1. Từ những trang viết về người phụ nữ bị xã hội phong kiến dồn đẩy vào những cảnh khổ đau, oan trái đã vọng lên tiếng lòng xót thương, đồng cảm của các tác giả.
*  Tác giả Nguyễn Dữ đã phơi bày nỗi đau đớn, oan ức của Vũ Nương trong “ Chuyện người con gái Nam Xương”.
  Nguyễn Dữ đau cùng nỗi đau của nàng Vũ Nương tội nghiệp, oan trái mà đã viết lên những lời than sầu thảm của nàng:
                        “ Nay đã bình ... kia nữa”.
 * Số phận của người phụ nữ là điều day dứt khôn nguôi của Nguyễn Du. Trái tim nhân ái bao la của nhà thơ đã dành cho những kiềp hồng nhan bạc mệnh một sự cảm thông và xót thương sâu sắc. Kiệt tác “Truyện Kiều”  đã thể hiện tiếng nói trái tim ấy của Nguyễn Du một cách cảm động.
     Trong “ Truyện Kiều” Nguyễn Du đã hoá thân vào nàng Kiều để cùng đau, cùng buồn, cùng cất lên tiếng kêu xé ruột với nàng. Cuộc đời Kiều phải trải qua mọi nỗi khổ của người phụ nữ bị xô đẩy xuống đáy xã hội. Đang sống trong cảnh êm ấm, Kiều  phải bán mình cho kẻ buôn người Mã Giám Sinh, trải qua 15 năm lưu lạc, nếm đủ mùi cay đắng, nhục nhã “ Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”...Nguyễn Du theo dõi từng bước đi trong cuộc đời Kiều.
- Nhà thơ thông cảm với nỗi đau của Thúy Kiều khi phải bán mình cho tên họ Mã.
- Ông thấu hiểu tâm trạng Kiều khi bị Tú Bà giam lỏng ở lầu Ngưng Bích:
                               “ Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
                       Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”
- Khi Kiều bị đánh đòn.
- Khi Kiều mắc lừa Hồ Tôn Hiến.   
Câu thơ của Nguyễn Du cất lên như tiếng nấc não lòng, những từ ngữ “thương thay”, “hại thay”, “đau đớn thay” rớt xuống trang thơ tựa như những giọt lệ chứa chan lòng nhân ái, khóc thương cho số kiếp “đoạn trường” của Thúy Kiều. 
                               “ Thương thay cũng một kiếp người
                                  Hại thay mang lấy sắc tài làm chi ”        
*  Hồ Xuân Hương mượn hình ảnh cái bánh trôi nước để nói về thân phận người phụ nữ. Nhà thơ bày tỏ sự cảm thông với nỗi bất hạnh của họ:
                                “ Bảy nổi ba chìm với  nước non”
*  Nhà thơ  Nguyễn Đình Chiểu xót xa  kể về số phận trôi nổi, ba đào của Kiều Nguyệt Nga. Để giữ trọn tấm lòng chung thuỷ với Lục Vân Tiên, nàng kiên quyết khước từ đính hôn với con trai quan thái sư nên bị bắt đi cống giặc Ô Qua. Bị đẩy vào tình cảnh tội nghiệp, Kiều Nguyệt Nga nhảy xuống sông tự tử. Dạt vào nhà họ Bùi, nàng lại bị Bùi Kiệm cưỡng ép , phải trốn vào rừng sống cuộc đời lẩn lút tủi cực.
* Với trái tim nhân đạo, với sự phát hiện về con người hết sức chân thực, các tác giả ưu tú nói trên đã hướng ngòi bút vào việc phản ánh số phận người phụ nữ và bộc lộ sự đồng cảm sâu sắc với họ. 
2. Các tác giả tiêu biểu của văn học trung đại còn tập trung ca ngợi tài sắc, đề cao phẩm hạnh của người phụ nữ với lòng trân trọng đặc biệt.
*  Trong “Chuyện Người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ khắc hoạ, ngơi ca nhân vật Vũ Nương- người phụ nữ đẹp người, đẹp nết. Ngay mở đầu câu chuyện, Nguyễn Dữ đã bộc lộ lòng mến mộ Vũ Nương, tác giả vẽ chân dung nàng bằng một thứ ngôn từ đầy thẩm mĩ: “Tính đã thuỳ mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp.”     Qua từng chi tiết, tác giả làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của Vũ Nương- đảm đang, hiếu nghĩa, thuỷ chung, luôn giữ gìn phẩm chất trong sạch ngắn gọn- Chồng đi lính, nàng một mình nuôi dạy con thơ, phụng dưỡng mẹ già. Những ngày tháng xa chồng là những ngày nàng sống trong nhung nhớ. Nàng đã bảo vệ phẩm hạnh của mình, giữ trọn đạo làm vợ “cách biệt ba năm...bén gót”. Khi bị nghi oan thì đã lấy cả cái chết để giãi tỏ nỗi oan khuất.
Nhà văn thể hiện rõ thái độ đồng tình, trân trọng của ông với cách lựa chọn “chết vinh còn hơn sống nhục’. Đó là tấm lòng tự trọng, bản lĩnh của người phụ nữ - khi cần sẽ chết để minh oan, một kiểu minh oan thấm đượm màu sắc dân gian. Nguyễn Dữ trân trọng với cách chọn cái chết, chọn nơi sống cho mình ở thuỷ  cung để giữ chọn phẩm giá của nàng Vũ Nương. Dù sống dưới thuỷ cung nhưng Nguyễn Dữ vẫn thấy ở Vũ Nương nỗi nhớ khôn nguôi về gia đình, quê hương, lòng khát khao được minh oan. Con người ấy cả khi sống cho đến khi  được hoá thân đều rất giàu tình cảm, rất trọng danh dự và nhân cách.  
 *  Nguyễn Du hết lòng ngợi ca sắc, tài, tình, phẩm hạnh của nàng Kiều.
 *  Bài thơ “ Bánh trôi nước” là lời khẳng định, ngợi ca của nữ sĩ Hồ Xuõn Hương về vẻ đẹp hình thể, tâm hồn của người phụ nữ .
 *  Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi tấm lòng hiếu nghĩa, thuỷ chung của Kiều Nguyệt Nga.
  Cái nhìn yêu thương , trân trọng giúp các nhà thơ, nhà văn thấy rõ những vẻ đẹp cao quý của người phụ nữ mặc dù họ bị xã hội phong kiến dập vùi. Cảm hứng ngợi ca giúp các tác giả xây dựng được những hình tượng người phụ nữ thật hoàn hảo.
3.2.5. CÁC DẠNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT VÀ BÀI TẬP KHÁC
BT1: Vận dụng những phương châm hội thoại (PCHT) đã học để giải thích vì sao người nói đôi khi phải dùng những cách diễn đạt như:
a)     như tôi được biết, tôi tin rằng, nếu tôi không lầm thì, tôi nghe nói, theo tôi nghĩ, hình như là…
b)    như tôi đã trình bày, như mọi người đều biết.
Trả lời: a) Trong nhiều trường hợp vì một lí do nào đó người nói muốn (hoặc phải) đưa ra một nhận định hay truyền đạt một thong tin nhưng chưa có bằng chứng chắc chắn. Để đảm bảo tuânt hủ PC về chất, người nói phải dùng những cách nói trên nhằm báo cho người nghe biết là tính xác thực của nhận định hay thong tin mà mình đưa ra chưa được kiểm chứng.
b) Trong giao tiếp, đôi khi để nhấn mạnh hay để chuyển ý, dẫn ý, người nói cần nhắc lại một nội dung nào đó đã nói hay giả định là mọi người đều biết. Khi đó để đảm bảo PC về lượng, người nói phải dung những cách nói trên nhằm báo cho người nghe biết là việc nhắc lại nội dung đã cũ là do chủ ý của người nói.
BT2: Phép tu từ từ vựng nào đã học ( so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, điệp ngữ, nói quá, nói giảm nói tránh) có liên quan trực tiếp tới PC lịch sự? Cho ví dụ.
Trả lời: Phép tu từ từ vựng đã học có lien quan trực tiếp tới PC lịch sự là phép nói giảm nói tránh.
VD: Thay vì chê bài viết của người khác dở ta nói: “Bài viết của bạn chưa được hay lắm.”
BT3: Vận dụng những PCHT đã học để giải thích vì sao người nói đôi khi phải dùng những cách nói như: a) nhân tiện đây xin hỏi;
b) cực chẳng đã tôi phải nói, tôi nói điều này có gì không phải anh bỏ qua cho; biết là làm anh không vui, nhưng …; xin lỗi, có thể anh không hài  lòng nhưng tôi cũng phải thành thực mà nói là …;
c) đừng nói leo, đừng ngắt lời như thế; đừng nói cái giọng đó với tôi.
Trả lời: Đôi khi người nói phải dùng những cách diễn đạt như vậy vì:
a)     Khi người nói hỏi về một vấn đề không đúng vào đề tài mà hai người đang trao đổi, tránh để người nghe hiểu là mình không tuân thủ PC quan hệ , người nói dung cách diễn đạt trên .
b)    Trong giao tiếp, đôi khi vì một lúi do nào đó, người nói phải nói một điều mà người đó nghĩ là sẽ làm tổn thương thể diện của người đối thoại. Để giảm nhẹ ảnh hưởng, tức là xuất phát từ việc chú ý tuân thủ PC lịch sự người nói  dùng những cách diễn đạt trên.
c)     C) Những cách nói này báo hiệu cho người đối thoại biết là người đó đã không tuân thủ PC lịch sự và phải chấm dứt sự không tuân thủ đó.
BT4  (3 điểm). Từ lời thoại của nhân vật cai lệ và nhân vật chị Dậu trong đoạn trích dưới đây :
          “ Cai lệ không để cho chị được nói hết câu, trợn ngược hai mắt, hắn quát :
   Mày định nói cho cha mày nghe đấy à ? Sưu của nhà nước mà dám mở mồm xin khất!
Chị Dậu vẫn thiết tha :
Khốn nạn ! Nhà cháu đã không có, dẫu ông chửi mắng cũng đến thế thôi. Xin ông trông lại !
Cai lệ vẫn giọng hầm hè :
Nếu không có tiền nộp sưu cho ông bây giờ, thì ông sẽ dỡ cả nhà mày đi, chửi mắng thôi à ! ”
(Ngô Tất Tố - Tức nước vỡ bờ (Trích Tắt đèn), Ngữ văn 8, tập I)
          Em hãy cho biết :
a)     Vai xã hội của các hân vật tham gia hội thoại.
b)    Xét về phương châm lịch sự thì :
- Nhân vật nào tuân thủ ? Nêu biểu hiện của sự tuân thủ.
- Nhân vật nào không tuân thủ ? Nêu biểu hiện của sự không tuân thủ.
c) Nhân vật đã thể hiện nét tính cách nào từ sự không tuân thủ phương châm lịch sự ?
Trả lời: a) Vai xã hội của các nhân vật :
+ Nhân vật cai lệ : vai trên
+ Nhân vật chị Dậu : vai dưới
b) Xét về phương châm lịch sự :
+ Nhân vật tuân thủ : chị Dậu
Biểu hiện : Từ ngữ xưng hô : cháu, ông. Lời lẽ : van xin
+ Nhân vật không tuân thủ : cai lệ
Biểu hiện : Từ ngữ xưng hô : ông, mày. Lời lẽ : chửi mắng, dọa dẫm
c) Sự không tuân thủ phương châm lịch sự ấy đã góp phần thể hiện rõ nét tính cách của nhân vật : hách dịch, nhẫn tâm, độc ác...
BT 5 :  (3 điểm)
Nhận xét về vai trò của chi tiết nghệ thuật trong truyện có ý kiến cho rằng “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Chi tiết chiếc bóng trong tác phẩm : “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ đã thể hiện rõ điều đó.
Em hãy trình bày hiểu biết của em về vấn đề trên.
Trả lời :       
1. Nêu được vai trò của chi tiết nghệ thuật trong truyện (1 điểm)
- Chi tiết là một trong những yếu tố nhỏ nhất tạo nên tác phẩm, để làm nên một chi tiết nhỏ có giá trị đòi hỏi nhà văn phải có sự thăng hoa về cảm hứng và tài năng nghệ thuật. (0,5 điểm)
- Nghệ thuật là một lĩnh vực đặc thù : tầm vóc của người nghệ sỹ có thể được làm nên từ những yếu tố nhỏ nhất. Nhà văn lớn có khả năng sáng tạo được những chi tiết nhỏ nhưng giàu giá trị biểu đạt, góp phần đắc lực trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. (0,5 điểm)
2. Đánh giá giá trị của chi tiết “Chiếc bóng” trong “Chuyện người con gái Nam Xương” (4,0 điểm)
a. Giá trị nội dung : (1,0 điểm)
- “Chiếc bóng” tô đậm thêm nét đẹp phẩm chất của Vũ Nương trong vai trò người vợ, người mẹ. Đó là nỗi nhớ thương, sự thủy chung, ước muốn đồng nhất “xa mặt nhưng không cách lòng” với người chồng nơi chiến trận. Đó là tấm lòng người mẹ muốn khỏa lấp sự trống vắng, thiếu hụt tình cảm người cha trong lòng đứa con thơ bé bỏng. (0,25 điểm)
- Chiếc bóng là một ấn dụ cho số phận mỏng manh của người phụ nữ trong chế độ phong kiến nam quyền. Họ có thể gặp bất hạnh bởi bất cứ một nguyên nhân vô lý nào.(Thị Kính cắt râu cho chồng) mà không lường trước được. Với chi tiết này, người phụ nữ hiện lên là nạn nhân của bi kịch gia đình, bi kịch xã hội. (0,25 điểm)
- “Chiếc bóng” xuất hiện ở cuối tác phẩm “rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”. Khắc họa giá trị hiện thực nhân đạo sâu sắc của tác phẩm. (0,25 điểm)
- Chi tiết này còn là bài học về hạnh phúc muôn đời: một khi đánh mất niềm tin, hạnh phúc chỉ còn là chiếc bóng hư ảo. (0,25 điểm)
b. Giá trị nghệ thuật : (1,0điểm)
- Tạo sự hoàn chỉnh, chặc chẽ cho cốt truyện : Chi tiết “ Chiếc bóng” tạo nên nghệ thuật  thắt nút, mở nút, mâu thuẫn bất ngờ, hợp lý :
+ Bất ngờ : một lời nói của tình mẫu tử lại bị chính đứa con ngây thơ đẩy vào vòng oan nghiệt ; chiếc bóng của tình chồng nghĩa vợ, thể hiện nỗi khát khao đoàn tụ, sự thủy chung son sắt, lại bị chính người chồng nghi ngờ “thất tiết” . . . 0,5 điểm)
+ Hợp lý : Mối nhân duyên khập khiễng chứa đựng nguy cơ tiềm ẩn (Vũ Nương kết duyên cùng Trương Sinh thất học, đa nghi, ghen tuông, độc đoán) cộng với cảnh ngộ chia ly bởi chiến tranh à nguy cơ tiềm ẩn bùng phát.
- Tạo kịch tính, tăng sức hấp dẫn cho tác phẩm. (0,5 điểm)
BT 6:(2 điểm) Giải thích nghĩa của những thành ngữ sau và hãy cho biết mỗi thành ngữ liên quan đến những phương châm hội thoại nào?
a) Nói băm nói bổ.
b) Nói úp nói mở.
c) Đánh trống lảng.
                   d. Mồm loa mép giải.
Trả lời:   a, Nói băm nói bổ: Nói bốp chát, xỉa xói, thô bạo (Phương châm lịch sự)
b, Nói úp nói mở: Nói lấp lửng, mập mờ, ỡm ờ, không nói ra hết(phương châm cách thức)
c, Đánh trống lảng: Né tránh không muốn tham dự vào một chuyện nào đó, không muốn đề cập đến một vấn đề nào đó mà người đối thoại đang trao đổi (phương châm quan hệ)
 d, Mồm loa mép giải: Lắm lời, đanh đá, nói át người khác(phương châm lịch sự)
3.2.6. THỰC HÀNH LÀM CÁC DẠNG ĐỀ THI HSG HOÀN CHỈNH
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI
Môn: ngữ văn – Lớp 9
Thời gian: 150 phút.
 
Câu 1 : ( 2 điểm )
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?”
(“Kiều ở lầu Ngưng Bích” - Truyện Kiều - Nguyễn Du)
              Em có nhận xét gì về hai thi liệu “thuyền “ và “hoa” trong đoạn thơ trên?
Câu 2: (3 điểm):
Ng­ười ăn xin
Một ng­ười ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, n­ớc mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:
- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ c­ời:
- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Nh­ư  vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận đ­ợc một cái gì đó của ông.
                                (Theo Tuốc-ghê-nhép. Dẫn từ SGK Ngữ văn 9, tập một)
              Suy nghĩ của em từ câu chuyện trên?
Câu 3: (5  điểm)
            Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài…
(Ý nghĩa văn chương – Hoài Thanh, Ngữ văn 7, T2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, Tr.60)
            Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương (Trích Truyền kỳ mạn lục) của Nguyễn Dữ và đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du.
HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu 1 ( 2 điểm)
- “Thuyền” và “hoa”: hai thi liệu quen thuộc trong thơ ca ( văn thơ dân gian và văn chương bác học). Trong  đoạn thơ này, hai hình ảnh đều thể hiện sự di chuyển bất định giữa không gian mênh mông không có bến bờ. Hoa còn tượng trưng cho thân phận hoa rơi – cái đẹp bị dập vùi.
->Sự kết hợp văn thơ dân gian và văn chương bác học một cách sáng tạo nên có sức lan toả, gợi cảm.
- Trình bày gọn, rõ ý, lập luận chặt chẽ.
Câu 2 (3 điểm)
a. Yêu cầu
1. Về hình thức:
- Biết cách làm bài nghị luận xã hội ngắn.
- Luận điểm đúng đắn, sáng tỏ.
- Diễn đạt l­u loát; dẫn chứng chọn lọc; lí lẽ thuyết phục.
2. Về nội dung:
 Bài viết có thể trình bày theo các cách khác nhau nh­ng cần nêu đ­ợc các ý cơ bản sau:
+ Truyện kể về việc chonhận của cậu bé và ng­ời ăn xin, qua đó ngợi ca cách ứng xử cao đẹp, nhân ái giữa người cho và người nhận, giữa con ng­ời với con ng­ời.
+ Truyện gợi cho chúng ta nhiều suy ngẫm về việc chonhận trong cuộc sống:
- Cái chonhận là gì? Đâu phải chỉ là vật chất, có thể là giá trị tinh thần, có khi chỉ là một câu nói, một cử chỉ…
- Thái độ khi chonhận: cần cảm thụng, chia sẻ, chân thành, có văn hoá.
+ Xác định thái độ sống và cách ứng xử của bản thân: tôn trọng, quan tâm chia sẻ với mọi ng­ời.
b. Cho điểm
- Điểm 3: Đạt đ­ợc các yêu cầu nêu trên, lí lẽ thuyết phục, văn viết mạch lạc, không mắc những lỗi diễn đạt.
- Điểm 2: Đạt đ­ợc cơ bản các yêu cầu nội dung. Còn một số lỗi về diễn đạt.
- Điểm 1: Đạt đ­ợc khoảng một nửa yêu cầu nội dung, mắc nhiều lỗi .
- Điểm 0: Lạc đề, sai cả nội dung và ph­ơng pháp.
Câu 3 : (5 điểm) Bàn luận về ý kiến của Hoài Thanh Nguồn gốc cốt lõi của văn chương là lòng thương người
a. Giới thiệu vấn đề nghị luận (1,0 điểm)
- Vấn đề trung tâm của văn chương là vấn đề con người và nguồn gốc cốt yếu của văn chương chính là lòng thương người.
- Lòng thương người hay nói rộng ra là giá trị nhân đạo là phẩm chất cốt lõi, là tiêu chuẩn cho một tác phẩm văn học chân chính.
b. Giải thích ý kiến (2,0 điểm)
- Hoài Thanh đã đưa ra vấn đề quan trọng, bản chất của văn chương, được coi là nguồn gốc cốt yếu của văn chương: lòng thương người mà rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài. Văn chương chính là tiếng nói của tâm hồn, cảm xúc, chỉ bật ra khi trong tim cuộc sống tràn đầy. Nói chuyện văn chương chính là chuyện của những tâm hồn đồng điệu.
- Lòng thương người, thậm chí thương cả muôn vật, muôn loài là tình cảm rộng lớn, cao cả, mang tầm nhân loại. Tình cảm ấy không chỉ là cội nguồn của văn chương mà còn là thước đo giá trị của tác phẩm văn chương chân chính. Giá trị đó chính là giá trị nhân đạo, là những ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm.
- Giá trị nhân đạo là một phẩm chất cao quý của tác phẩm văn học chân chính. Nói đến giá trị nhân đạo, đến ý nghĩa nhân văn là nói đến vấn đề con người, vấn đề nhân sinh đặt ra trong tác phẩm. Ở đó, con người luôn được đặt ở vị trí hàng đầu, trong mối quan hoài thường trực của các nhà văn.
- Biểu hiện của giá trị nhân đạo rất đa dạng song thường tập trung vào những mặt cụ thể sau: lòng thương yêu, sự cảm thông, xót xa trước những hoàn cảnh, những số phận bất hạnh; lên án, tố cáo các thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người; ngợi ca, đề cao những vẻ đẹp, phẩm giá cao quý; trân trọng, nâng niu khát vọng sống, khát vọng tình yêu và hạnh phúc của con người.
c. Giá trị nhân đạo qua tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương và đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (6,0 điểm)
- Tấm lòng yêu thương, đồng cảm, xót xa cho những số phận người phụ nữ tài sắc mà bất hạnh, gặp nhiều bi kịch trong cuộc đời: số phận của Kiểu bị ném vào nhà chứa, rồi giam lỏng trong lầu Ngưng Bích với nỗi cô đơn, buồn tủi, thương thân, xót phận; là tình cảnh oan khiên nghiệt ngã của Vũ Nương, đến mức nàng phải dùng cái chết để chứng tỏ tấm lòng trong trắng, tiết hạnh của mình.
- Qua bi kịch thân phận của Kiều và Vũ Nương, cả hai nhà văn lên án, tố cáo xã hội phong kiến bất công, tàn bạo đã tước đi quyền sống, chà đạp lên con người. Đó là chiến tranh phi nghĩa, là chế độ nam quyền (Chuyện người con gái Nam Xương), là bọn quan lại tham lam, là lũ buôn thịt bán người không từ một thủ đoạn chỉ vì đồng tiền (Truyện Kiều).
- Khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp, phẩm chất cao quý của người phụ nữ, dù cuộc đời của họ truân chuyên, nhục nhằn. Đó là lòng chung thủy, sự hiếu hạnh, giàu tình yêu thương, luôn sống vì người khác, nghĩ cho người khác của Kiều và Vũ Nương.
- Trân trọng, đề cao những khát vọng nhân văn của người phụ nữ: khát vọng về tình yêu, hạnh phúc, về một mái ấm gia đình bình dị, sum vầy.
d. Đánh giá về ý kiến của Hoài Thanh (1,0 điểm)
- Ý kiến của Hoài Thanh về nguồn gốc, phẩm chất của văn chương là ý kiến đúng đắn, khoa học bởi nó đã nói lên đặc trưng, thuộc tính quan trọng nhất của văn học: Văn học là tiếng nói của tâm hồn, cảm xúc; văn học mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc – “Văn học là nhân học” (M. Gorki).
- Tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương (Trích Truyền kỳ mạn lục) của Nguyễn Dữ và đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du đã thể hiện rõ nét quan niệm văn học của Hoài Thanh. Bởi cả hai đều là những tác phẩm mang giá trị nhân đạo cao cả, hướng tới con người, vì con người.
 
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI
Môn: ngữ văn – Lớp 9
Thời gian: 150 phút.
 
Câu 1(4điểm)   QUA ĐÈO NGANG
                    
                      Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà,
                      Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
                      Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
                      Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
                      Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
                      Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
                      Dừng chân đứng lại, trời non nước,
                      Một mảnh tình riêng, ta với ta.
                                                             ( Bà Huyện Thanh Quan )
 a. Hãy xác định từ tượng hình, từ tượng thanh và phân tích nghệ thuật sử dụng từ tượng hình, từ tượng thanh trong bài thơ.
 b. Phân tích giá trị nghệ thuật của hai câu thơ cuối trong bài.
Câu2.(6 điểm)
`                                     Những bàn tay cóng
          Hôm ấy, tôi đang dọn cho sạch mấy ngăn túi trong áo rét của con gái sáu tuổi thì phát hiện ra ở mỗi ngăn túi là một đôi găng tay. Nghĩ rằng một đôi thôi cũng đủ giữ ấm tay rồi, tôi hỏi con: "Vì sao con mang tới hai đôi găng tay trong túi áo?". Con tôi trả lời: " Con làm vậy từ lâu rồi. Mẹ biết mà, có nhiều bạn đi học mà không có găng tay. Nếu con mang thêm một đôi, con có thể cho bạn m­ợn và tay bạn  sẽ không bị lạnh".
                                                 ( Theo " Tuổi mới lớn", NXB Trẻ )
          Suy nghĩ của em về ý nghĩa, bài học rút ra từ câu chuyện trên.
Câu 3 (10 điểm): Nhận xét về cách kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, có ý kiến cho rằng: “Truyện kết thúc có hậu, thể hiện được ước mong của con người về sự công bằng trong cuộc đời”, song ý kiến khác lại khẳng định: “Tính bi kịch của truyện vẫn tiềm ẩn ở ngay trong cái kết lung linh kì ảo”.
                                    Hãy trình bày suy nghĩ của em về hai ý kiến trên.
HƯỚNG DẪN CHẤM
Câu 1 (4 điểm)
a.-Từ tượng hình : lom khom, lác đác (0,5 đ)
->Tả dáng người, cảnh vật khi hoàng hôn xuống (0.5đ).
 -Từ tượng thanh: quốc quốc, gia gia (0,5 đ)
->Gợi tiếng chim kêu thể hiện nỗi nhớ nước thương nhà của nhân vật trữ tình (1đ)
b. Nghệ thuật tương phản : Lấy cái bao la, mênh mông, vô hạn của “ trời, non, nước” tương phản với cái nhỏ bé của “mảnh tình riêng” của “ta với ta” để cực tả nỗi buồn cô đơn, xa vắng của người lữ khách khi đứng trên Đèo Ngang lúc ngày tàn (1.5đ)
Câu2. (6 điểm)
*Yêu cầu về kĩ năng:
          -HS biết cách làm một bài văn nghị luận xã hội dựa trên ý nghĩa của một câu chuyện.
          - Trình bày mạch lạc, rõ ràng, lập luận chặt chẽ, có cảm xúc.
* Yêu cầu về kiến thức: HS cần đảm bảo các ý sau:
          - Hiểu đ­ược ý nghĩa câu chuyện:                                         
          Tình yêu th­ơng , sự sẻ chia đùm bọc giữa con ng­ời với con ng­ời đ­ợc thể hiện qua những suy nghĩ, việc làm rất hồn nhiên của em bé.
          - Bàn bạc và chứng minh:
          + Suy nghĩ và việc làm của em bé là hoàn toàn đúng vì trong xã hội của chúng ta có không ít những ng­ời gặp những hoàn cảnh khó khăn hoặc éo le, bất hạnh. Họ rất cần sự quan tâm, sẻ chia giúp đỡ của những ng­ời xung quanh để có cuộc sống bình th­ờng nh­ bao ng­ời khác, để họ v­ơn lên v­ợt qua số phận. Lấy ví dụ.                                                      
          +Tình yêu th­ơng đó cần đ­ợc thể hiện ra bằng những hành động cụ thể, thiết thực. ở đây việc làm của em bé tuy nhỏ nh­ng ý nghĩa lại vô cùng lớn lao chứng tỏ em đã biết quan tâm và giúp đỡ các bạn xung quanh mình.
Việc làm của em đã đánh thức, khơi dậy ở mỗi chúng ta những tình cảm t­ương tự nh­ vậy. Lấy ví dụ
          +Tình yêu thư­ơng luôn là nền tảng của đạo đức, là truyền thống đạo lý tốt đẹp của ông cha ta từ x­a cho đến nay mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy.                                                                                                  
          +Phê phán những việc làm trái ng­ợc với tình yêu thư­ơng, sự sẻ chia giúp đỡ.                                                                                             
          -Bài học cho bản thân:                                                         
          +Xã hội của con ng­ười không thể thiếu tình yêu th­ơng nhất là khi chúng ta gặp khó khăn, trở ngại trong cuộc sống. Hãy yêu th­ương tất cả mọi ng­ời và bằng những việc làm nhỏ nhất giúp đỡ nhau để làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn.
          +Cuộc sống hiện đại phức tạp, nền kinh tế thị tr­ờng phần nào ảnh hư­ởng đến suy nghĩ, lối sống của nhiều ngư­ời nên tình yêu th­ương, tính cộng đồng càng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong thời đại ngày nay. Đặc biệt là lớp trẻ cần không ngừng tu dưỡng về đạo đức để có một lối sống đẹp.
          * Chú ý:
          -Đánh giá cao những bài viết sâu sắc, giải quyết vấn đề một cách triệt để và có ý kiến đánh giá riêng như­ng hợp lí
          -Giám khảo chủ động, linh hoạt cho điểm.
Câu 3: (10 điểm):Học sinh có thể trình bày các suy nghĩ theo quan điểm cá nhân song cần đảm bảo được các ý sau:
          - Nhận xét về cách kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ có 2 ý kiến:
          “Truyện kết thúc có hậu, thể hiện được ước mong của con người về sự công bằng trong cuộc đời”
          “Tính bi kịch của truyện vẫn tiềm ẩn ở ngay trong cái kết lung linh kì ảo”.
          Cả hai ý kiến trên đều nói lên được ý nghĩa của cách kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Hai ý kiến trên không phải mâu thuẫn với nhau mà nó bổ sung cho nhau để nói lên đầy đủ ý nghĩa sâu xa của cách kết thúc vừa có hậu vừa mang tính bi kịch sâu sắc của tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ .(1,0  điểm)
-Ý kiến thứ nhất muốn đề cao kết thúc có hậu của tác phẩm, thể hiện mơ ước ngàn đời của nhân dân về lẽ công bằng: Người tốt dù có trải qua bao oan khuất cuối cùng cũng được đền trả xứng đáng, cái thiện bao giờ cũng chiến thắng. (1,5 điểm)
-Ý kiến thứ hai muốn đề cập tính bi kịch của tác phẩm.Vũ Nương trở về uy nghi, rực rỡ nhưng chỉ thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện ở giữa dòng sông và sau lời tạ từ đầy ngậm ngùi rồi  biến mất. Nàng không trở lại trần gian  thực ra đâu phải cái nghĩa với Linh Phi: “ Thiếp cám ơn đức Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ”,  mà điều chủ yếu là nàng chẳng còn gì để trở về. Đàn giải oan chỉ là một chút an ủi cho người bạc phận chứ không thể làm sống lại tình xưa. Nỗi oan được giải, nhưng hạnh phúc thực sự đâu có thể tìm lại được nữa. Sự dứt áo ra đi của Vũ Nương biểu hiện thái độ phủ định cõi trần thế với cái xã hội bất công đương thời, xã hội mà ở đó phụ nữ không thể có hạnh phúc. Như vậy trong ý kiến nhận xét thứ hai muốn  đề đến với sự phê phán  và niềm thương cảm của tác giả tiềm ẩn trong cái kết lung linh kì ảo. (1,5 điểm)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
PHẦN KẾT LUẬN
1. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
         Bồi dưỡng học sinh giỏi là một công tác trọng tâm ở các nhà trường phổ thông. Nhiệm vụ của mỗi giáo viên là phải nâng cao được chất lượng giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi, để phát hiện và bồi dưỡng đạt kết quả tốt người giáo viên là yếu tố cơ bản. Giáo viên thật sự phải có năng lực, năng khiếu sư phạm, đồng thời phải có tâm huyết với nghề nghiệp, biết tôn trọng tài năng .Chất lượng học sinh giỏi không chỉ thể hiện đánh giá năng lực, năng khiếu văn chương của học sinh mà còn thể hiện năng lực bồi dưỡng của mỗi giáo viên nói riêng và chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung. Trên thực tế, các nhà trường THCS coi đây là cái đích để thi đua cho nên công tác này đã được quan tâm đặc biệt.  Vì vậy, nâng cao chất lượng dạy bồi dưỡng HSG  môn Ngữ Văn 9 và kết quả kỳ thi HSG từ cấp Huyện đến cấp Tĩnh làthước đo chất lượng dạy- học ở các nhà trường THCS. Điều này đã được chứng minh rất rõ ràng qua cả lý thuyết và thực tiễn. Là người trực tiếp giảng dạy bồi dưỡng HSG nhiều năm, bản thân tôi đã tự rút ra được một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy bồi dưỡng môn Ngữ Văn lớp 9. Qua hai năm rút kinh nghiệm và thay đổi, áp dụng những giải pháp nêu trên tôi nhận thấy chất lượng dạy bồi dưỡng môn Ngữ Văn lớp 9 có sự chuyển biến rõ rệt. Ở phương diện là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, tôi thấy mình vững vàng hơn trong chuyên môn; tự tin say mê hơn với sự nghiệp trồng người. Đối với các em học sinh, các em bước đầu đã ý thức được tầm quan trọng của môn văn, biết cách học văn, làm văn của mình đúng cách, có hiệu quả hơn. Số lượng học sinh có kĩ năng làm bài văn tốt khá nhiều. Cụ thể, thống kê kết HSG Ngữ Văn lớp 9 ba năm gần đây như sau:
Năm học Kết quả Xếp thứ cấp Huyện
2010- 2011 6/7 em đậu, 3G ba, 3 GKK 7
2011- 2012 7/7 em đậu, 2G nhì,2 Gba, 3GKK 6
2012- 2013 5/5 em đậu, 1 G nhất, 2 G ba, 2 GKK 4
Song qua việc nghiên cứu đề tài này cho phép tôi có một vài đề nghị sau :
    Đối với giáo viên: - Không được ép buộc học sinh, phải để học sinh tự chọn môn học mà mình yêu thích và có năng khiếu về môn đó.
                   - Những giáo viên được phân công giảng dạy bồi dưỡng phải có kế hoạch, chương trình cụ thể, tránh dạy chay, thích gì dạy nấy.
                   - Phải thật sự nhiệt tình say mê, tận tụy với học sinh. 
   Đối với nhà trường :
                   - Phải quan tâm nhiều hơn công tác này, động viên kịp thời những giáo viên trực tiếp dạy bồi dưỡng cả về vật chất lẫn tinh thần.
                   - Tăng cường cơ sở vật chất , trang thiết bị dạy học cho giáo viên : Tài liệu , sách tham khảo ...
                   - Phải thường xuyên kiểm tra việc bồi dưỡng của giáo viên.
            Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của tôi về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ Văn 9 ở giai đoạn 1(từ 6/9 đến cuối tháng 10 hàng năm) được thực hiện tại trường THCS. Vì điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chưa trình bày được nội dung và giải pháp bồi dưỡng HSG ở giai đoạn tiếp theo và trình độ năng lực hạn chế, đề tài của tôi chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót. Do vậy tôi rất mong được sự góp ý của các đồng nghiệp và cán bộ phụ trách chuyên môn.                                         
Tôi xin chân thành cảm ơn.
 
 
 
   
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
MỤC LỤC
 
 
 
MỤC LỤC TRANG
A, PHẦN MỞ ĐẦU 01
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 01
B, PHẦN NỘI DUNG 04
Chương 2. Thực trạng về  việc dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn lớp 9 ở các trường THCS  04
1.1. Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 03
1.2. Những khó khăn của việc dạy bồi dưỡng HSG hiện nay 04
1.3. Những yêu cầu thiết yếu của giáo viên dạy bồi dưỡng HSG 05
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn lớp 9 06
3.1. Giải pháp chung. 06
3.2. Nội dung, giải pháp cụ thể khi dạy bồi dưỡng HSG môn Ngữ Văn 08
A, PHẦN KẾT LUẬN 56
3.3. Đề xuất, kiến nghị 56
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
   
 

Tác giả bài viết: Phạm Thị Tâm

Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: phần
 

TIN BÀI MỚI NHẤT

LIÊN KẾT ỨNG DỤNG

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 5


Hôm nayHôm nay : 76

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 3199

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 130378